Soạn bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945” – Môn Ngữ văn – Lớp 11

0
71

Ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng Thầy Phạm Hữu Cường (giáo viên môn Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI) đi soạn bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945”.

I. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có ba đặc điểm cơ bản: Hình thành hai bộ phận với nhiều xu hướng văn học; phát triển hết sức nhanh chóng, đổi mới theo hướng hiện đại hóa.

1. Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa:

a. Hiện đại hóa văn học ở đây là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới.

b. Những nhân tố tạo điều kiện cho văn học Việt Nam đổi mới theo hướng hiện đại hóa:

  • Hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
  • Văn hóa phương Tây du nhập.
  • Chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực.
  • Nhu cầu văn hóa của lớp công chúng.
  • Viết văn trở thành một nghề kiếm sống tuy rất khó khăn, chật vật.

c. Ba giai đoạn của quá trình hiện đại hóa văn học:

*Giai đoạn thứ nhất: Từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920.

  • Văn xuôi quốc ngữ hình thành và phát triển.
  • Thành tựu chủ yếu của văn học giai đoạn này là thơ văn của các chí sĩ cách mạng.

*Giai đoạn thứ hai: Từ khoảng 1920 đến 1930.

Văn học có tính hiện đại nhưng nhiều yếu tố của văn học trung đại vẫn còn tồn tại từ nội dung đến hình thức.

*Giai đoạn thứ ba: Từ khoảng 1930 đến năm 1945.

Hiện đại hóa đã diễn ra trên mọi mặt của hoạt động văn học, làm biến đổi toàn diện và sâu sắc diện mạo văn học Việt Nam.

d. Đặc điểm của quá trình hiện đại hóa văn học:

  • Ở hai giai đoạn đầu, sự đổi mới còn có những trở ngại nhất định, bởi sự níu kéo của cái cũ, nên văn học từ năm 1900 đến năm 1930 được gọi là văn học giao thời.
  • Đến giai đoạn thứ ba, công cuộc hiện đại hóa mới được hoàn tất, làm cho nền văn học nước nhà thực sự hiện đại có thể hội nhập vào nền văn học thế giới.

2. Văn học phát triển hình thành hai bộ phận: công khai và không công khai.

a. Bộ phận văn học công khai.

  • Là bộ phận văn học phát triển hợp pháp, tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến.
  • Tuy có tính dân tộc và chứa đựng những yếu tố tư tưởng lành mạnh, tiến bộ nhưng nó không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chế độ thực dân.
  • Bộ phận này có điều kiện đầu tư công sức vào nghệ thuật, có những đóng góp mang ý nghĩa quyết định đối với quá trình hiện đại hóa nền văn học trong thời kì này.
  • Phân hóa thành hai xu hướng chính là: Xu hướng văn học lãng mạn, Xu hướng văn học hiện thực.

b. Bộ phận văn học không công khai (văn học bất hợp pháp):

  • Là bộ phận văn học bị đặt ra ngoài vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến, phải lưu hành bí mật, tiêu biểu là thơ văn sáng tác trong tù.
  • Là tiếng nói nghệ thuật của các nhà văn, chiến sĩ coi thơ văn một thứ vũ khí sắc bén chiến đấu chung kẻ thù dân tộc, là phương tiện truyền bá tư tưởng yêu nước và cách mạng.
  • Văn học cách mạng đã đánh thẳng vào bọn thống trị thực dân cùng bè lũ tay sau, nói lên khát vọng độc lập, đấu tranh để giải phóng dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của cách mạng.
  • Hình tượng trung tâm: Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng nhiệt huyết sôi trào, yêu nước, căm thù giặc.

c. Mối quan hệ giữa bộ phận văn học công khai và bộ phận văn học không công khai:

Có sự khác biệt và đấu tranh với nhau về mặt khuynh hướng tư tưởng và quan điểm nghệ thuật nhưng vẫn tác động và chuyển hóa lẫn nhau cùng phát triển.

3. Văn học phát triển với tốc đọ hết sức nhanh chóng.

a. Văn học vận động, phát triển với một tốc độ đặc biệt khẩn trương, mau lẹ, thể hiện ở:

  • Sự phát triển về số lượng tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và độ kết tinh ở những tác giả và tác phẩm tiêu biểu.
  • Văn học thời kì này giống như cuộc “chạy tiếp sức” đầy căng thẳng, quyết liệt và ngoạn mục, không có cây bút nào giữ vai trò tiên phong trong suốt chặng đường dài.

b. Nguyên nhân.

  • Do sự thúc bách của thời đại.
  • Sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc.

II. Thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

1. Về nội dung, tư tưởng:

Kế thừa và phát huy những truyền thống lớn nhất, sâu sắc nhất của văn học Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, đồng thời đem đến cho văn học một đóng góp mới của thời đại: tinh thần dân chủ.

2. Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học: Sự cách tân hiện đại hóa diễn ra ở mọi mặt, mọi thể loại.

  • Văn xuôi kết tinh thành tựu ở tiểu thuyết và truyện ngắn.
  • Thơ ca phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu; ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.
  • Phê bình văn học cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.

Hy vọng với bài viết này sẽ giúp ích cho các em trong quá trình học môn Ngữ văn 11.

Bình luận Facebook
Soạn bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945” – Môn Ngữ văn – Lớp 11
Đánh giá bài viết

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here