Soạn bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” – Môn Ngữ văn – Lớp 11

0
98

Ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng Thầy Phạm Hữu Cường (giáo viên môn Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI) đi soạn bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân”.

I. Ngôn ngữ –  tài sản chung của xã hội:

A. Vai trò của ngôn ngữ trong đời sống:

  • Ngôn ngữ là tài sản chung của một dân tộc, một cộng đồng xã hội.
  • Muốn giao tiếp với nhau, xã hội phải có phương tiện chung, trong đó phương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ.
  • Phương tiện đó giúp cho mỗi cá nhân trình bày những nội dung mà mình muốn biểu hiện; lĩnh hội được lời nói của người khác.

=> Cho nên mỗi cá nhân đều phải tích lũy và biết sử dụng ngôn ngữ chung của cộng đồng.

B. Tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng được biểu hiện qua những phương diện sau:

1. Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố chung cho tất cả mọi cá nhân trong cộng đồng. Những yếu tố chung bao gồm:

  • Các âm và các thanh.
  • Các tiếng do sự kết hợp của các âm và thanh theo những quy tắc nhất định.
  • Các từ.
  • Các ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ).

2. Tính chung còn thể hiện ở các quy tắc và phương thức chung trong việc cấu tạo và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ:

  • Quy tắc cấu tạo các kiểu câu: Câu đơn, câu ghép, câu phức.
  • Phương thức chuyển nghĩa từ: Từ nghĩa gốc sang nghĩa bóng.

=> Tất cả được hình thành dần trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ và cần được mỗi cá nhân tiếp nhận và tuân theo.

II. Lời nói –  sản phẩm riêng của cá nhân:

*Lời nói của cá nhân được tạo ra nhờ các yếu tố và quy tắc chung nhưng mặt khác nó là do cá nhân tạo ra nên nó cũng mang sắc thái riêng.

*Cái riêng trong lời nói cá nhân được biểu lộ ở những phương diện sau:

1. Giọng nói cá nhân:

Giọng mỗi người một vẻ riêng không giống người khác -> Có thể nhận ra giọng của người quen ngay cả khi không tiếp xúc, không nhìn thấy trực tiếp với người đó.

2. Vốn từ ngữ cá nhân:

  • Mỗi cá nhân quen dùng những từ ngữ nhất định phụ thuộc vào nhiều phương diện: lứa tuổi, giới tính, cá tính, nghề nghiệp, vốn sống,…

3. Sự chuyển đổi, sáng tạo khi sử dụng từ ngữ chung, quen thuộc:

  • Mỗi cá nhân có sự chuyển đổi, sáng tạo trong nghĩa của từ, trong sự kết hợp từ ngữ, tách từ, gộp từ, chuyển loại từ, sắc thái phong cách.

4. Việc tạo ra các từ mới:

  • Cá nhân có thể tạo ra các từ mới từ những chất liệu có sẵn và theo các phương thức chung.
  • Những từ này ban đầu được dùng trong lời nói của một cá nhân hay một vài cá nhân nhưng về sau chúng có thể được cộng đồng chấp nhân, sử dụng và trở thành tài sản chung, ngôn ngữ chung của xã hội.

5. Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo quy tắc chung, phương thức chung:

  • Khi nói hay viết, cá nhân có thể tạo ra sản phẩm có sự chuyển hóa linh hoạt so với những quy tắc và phương thức chung.
  • Biểu hiện rõ nhất của lời nói cá nhân là phong cách ngôn ngữ của các nhà văn, thơ.

=> Ghi nhớ: Ngôn ngữ là tài sản chung, là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng xã hội, còn lời nói là sản phẩm được cá nhân tạo ra trên cơ sở vận dụng các yếu tố ngôn ngữ chung và tuân thủ các nguyên tắc chung.

III. Quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân:

Ngôn ngữ chung của cộng đồng xã hội và lời nói của cá nhân có mối quan hệ hai chiều:

– Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra lời nói của mình, đồng thời để lĩnh hội được lời nói của cá nhân khác.

  • Muốn tạo ra lời nói hoặc viết trong hoàn cảnh cụ thể, cá nhân phải huy động các yếu tố ngôn ngữ chung.
  • Khi nghe, đọc, mỗi cá nhân cần tiếp nhân, tìm hiểu, lĩnh hội nội dung và mục đích giao tiếp của người khác, cá nhân cũng cần dựa trên cơ sở những yếu tố chung của ngôn ngữ.

– Lời nói cá nhân là thực tế sinh động, hiện thực hóa những yếu tố chung của ngôn ngữ. Đồng thời những nét riêng trong lời nói cá nhân góp phần đa dạng và phong phú thêm ngôn ngữ chung phát triển.

Hy vọng với bài viết này sẽ giúp ích cho các em trong quá trình học môn Ngữ văn 11.

Bình luận Facebook
Soạn bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” – Môn Ngữ văn – Lớp 11
Đánh giá bài viết

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here