Soạn bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” – Môn Ngữ văn – Lớp 10

0
95

Sau khi chúng ta đã xem xét một loạt tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu thì việc có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ kho tàng văn học dân gian là điều cần thiết. Vì vậy, ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng Thầy Phạm Hữu Cường (giáo viên môn Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI) đi tìm hiểu về bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”. 

I. Nội dung ôn tập

1. Khái niệm và đặc trưng của văn học dân gian

a. Khái niệm

Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ tập thể. Tác phẩm văn học dân gian gắn bó và phục vụ cho các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng

b. Đặc trưng

  • Tính truyền miệng
  • Tính tập thể
  • Tính thực hành

Chú ý: Hình thức diễn xướng

  • Là phương thức tồn tại, lưu hành của văn học dân gian
  • Gồm các hình thức: nói, kể, hát, diễn
  • Gắn liền với phương thức truyền miệng của văn học dân gian

2. Hệ thống thể loại

  • Truyện dân gian: Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ
  • Câu nói dân gian: Tục ngữ, câu đố
  • Thơ ca dân gian: Ca dao, dân ca, vè
  • Sân khấu dân gian: Chèo, tuồng, rối

Sử thi (sử thi anh hùng): thường đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với đời sống của cộng đồng, là những tác phẩm tự sự có quy mô lớn, hình tượng nghệ thuật hoành tráng, câu văn trùng điệp, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh,..

Truyền thuyết: thường kể về những sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của dân gian, là những tác phẩm văn xuôi tự sự có dung lượng vừa phải, có sự tham gia của những chi tiết, sự việc có tính chất thiêng liêng, kì ảo.

Truyện cổ tích: kể về số phận của những con người bình thường trong xã hội (chàng trai nghèo, em bé mồ côi…), thể hiện tinh thần nhân đạo và sự lạc quan của người lao động; là những tác phẩm văn xuôi tự sự, cốt truyện và hình tượng đều được hư cấu rất nhiều, có sự tham gia của nhiều yếu tố kì ảo, hoang đường (nhân vật thần, các vật thần,…) thường cố một kết cấu quen thuộc: nhân vật chính gặp khó khăn hoạn nạn và cuối cùng vượt qua và hưởng hạnh phúc

Truyện cười: phản ánh điều kệch cỡm, rởm đời trong xã hội, những sự việc xấu hay trái với lẽ tự nhiên trong cuộc sống, có tiềm ẩn những yếu tố gây cười, có dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, mâu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ và độc đáo

Truyện thơ: diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt; là những tác phẩm vừa có tính tự sự (có cốt truyện) vừa giàu trữ tình, thường sử dụng những hình ảnh so sánh, ví von, các biện pháp tu từ,… và có dung lượng lớn.

3. Kết luận

  • Văn học dân gian là kho tàng vô giá của dân tộc
  • Văn học dân gian chính là tâm hồn tình cảm, trí tuệ của quần chúng dân nhân và có tác động tích cực đến văn học viết

Hy vọng với bài viết này sẽ giúp ích cho các em trong quá trình học môn Ngữ văn lớp 10.

Bình luận Facebook
Soạn bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” – Môn Ngữ văn – Lớp 10
Đánh giá bài viết

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here