Bài phân tích đoạn 2 Tây Tiến hay nhất

0

Tuyển chọn những bài văn mẫu hay chủ đề phân tích đoạn 2 Tây Tiến. Các bài văn mẫu được biên soạn tổng hợp chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên toàn quốc. Mời các bạn tham khảo cùng mình nhé.

Tham khảo thêm:

1. Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 2 Tây Tiến

Sơ đồ tư duy phân tích 4 câu trong khổ thơ 2 bài Tây Tiến

Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 2 Tây Tiến
Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 2 Tây Tiến

2. Chi tiết dàn ý phân tích đoạn 2 Tây Tiến

Chi tiết dàn ý phân tích đoạn 2 Tây Tiến (4 câu khổ 2 Tây Tiến) để các bạn tham khảo:

a) Dàn ý Mở bài phân tích đoạn 2 Tây Tiến:

– Giới thiệu đôi nét về tác phẩm Tây Tiến và tác giả Quang Dũng 

– Khổ hai Tây Tiến thể hiện một thế giới thật lãng mạn và trữ tình ở vùng núi Tây Bắc với nhiều những kỉ niệm đẹp.

– Trích đoạn thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

……

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

b) Dàn ý Thân bài phân tích đoạn 2 Tây Tiến:

* Tổng quát:

– Sơ lược về quân đoàn Tây Tiến

– Tả đôi nét về bài thơ Tây Tiến nơi núi rừng.

* Phân tích

– Hai câu đầu của khổ thơ 2:

  • “Doanh trại”: là nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan và nghiêm khắc
  • Động từ “bừng”: ánh sáng rực rỡ, mạnh mẽ
  • “Hội đuốc hoa”: mang một màu sắc tình yêu ( chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng và vừa rạng rỡ
  • “Kìa em”: Ngỡ ngàng, kinh ngạc, quý mến
  • “Xiêm áo”: Trang phục đẹp đẽ, xinh xắn, đáng yêu

– Hai câu thơ tiếp theo:

  • “Khèn”: nhạc cụ mang những bản sắc riêng của Tây Bắc
  • “Man điệu”: điệu nhạc, điệu múa đặc trưng mang âm hưởng Tây Bắc
  • “E ấp”: sự ngại ngùng, thẹn thùng của những thiếu nữ bản làng nơi đây
  • “Xây hồn thơ”: vẻ đẹp thơ mộng đầy trữ tình của tâm hồn người chiến sĩ

– Bốn câu thơ tiếp theo của khổ thơ 2

  • Chiều sương”: hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng và thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữ dội ở phần đầu bài
  • “Ấy”: đại từ khiến hình ảnh buổi chiều sương trở nên rất đặc biệt
  • “Hồn lau”: Tả dáng lau qua màn sương, đồng thời đem lại linh hồn của cây cỏ
  • “Nẻo bến bờ”: Nẻo hướng đi, lối đi. Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la bát ngát
  • Điệp ngữ: “Có thấy-có nhớ” thể hiện nỗi lưu luyến, nhớ nhung tha thiết
  • “Dáng người trên độc mộc”: Dáng vẻ uyển chuyển và thướt tha với sự làm duyên của những cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.
  • “Dòng nước lũ – hoa đong đưa”: Hình ảnh đã tưởng chừng đối lập mà hài hòa nên thơ

→ Bút pháp gợi ra mà không tả

– Ngòi bút tài hoa và tinh tế nhưng không kém phần lãng mạn, trữ tình của tác giả Quang Dũng

– Tình cảm của tác giả dành cho thiên nhiên và con người Tây Bắc hiền hậu cùng với các kỉ niệm đẹp.

c) Dàn ý Kết bài phân tích đoạn 2 Tây Tiến:

– Suy nghĩ và tình cảm của bản thân đối với tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến.

3. Phân tích đoạn 2 Tây Tiến (mẫu 1)

Tác giả Quang Dũng vốn là lính của đơn vị Tây Tiến, một đơn vị có nhiệm vụ phối hợp cùng với bộ đội Lào để giải phóng và bảo vệ miền biên cương phía Tây của Tổ quốc. Sau đó Quang Dũng đã chuyển đơn vị công tác. Năm 1948, một lần nữa ngồi ở làng Phù Lưu Chanh (một địa danh cũ của tỉnh Hà Đông), nhớ lại  kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến, tác giả cảm xúc đã viết lên bài thơ tuyệt bút Tây Tiến. Tây Tiến không còn chỉ là bài thơ hay nổi tiếng của Quang Dũng trong thơ ca kháng chiến chống Pháp mà cònlà  một trong những tác phẩm tiêu biểu viết đề tài người lính với vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng tận cùng được thể hiện qua thiên nhiên Tây Bắc hình tượng người lính là hai nét đặc sắc trong cảm hứng và bút pháp nghệ thuật  Tây Tiến. Đoạn thơ sau đã viết về những kỉ niệm tình quân dân đầy thi vị, vẻ đẹp thơ mộng của sông nước Tây Bắc bằng những nét vẽ thật tinh tế mềm mại:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Từ “bừng” trong câu thơ đầu của đoạn thơ đã gợi cho ta cảm giác có sự đột ngột. Đó là sự “bừng” sáng của hội đuốc hoa và của lửa trại hay sự tưng bừng rộn rã của tiếng khèn, tiếng hát  “Đuốc hoa” vốn là từ cổ để chỉ cây nến đốt lên trong căn phòng cưới đêm tân hôn “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng Mai xưa”. Hình ảnh này chỉ xuất hiện trong đêm vui liên hoan của người lính tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa thiêng liêng lại vừa ấm áp tình keo sơn quân dân gắn bó.

Đây là đoạn thơ bộc lộ rất rõ nét tài hoa của ngòi bút của Quang Dũng. Hồn thơ lãng mạn của ông đã bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang đến màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ. Vì thế, cảnh là trong hoài niệm vậy mà lời thơ lại cho ta cảm giác đó là cảnh đang diễn ra ngay trước mắt ta. Và nhà thơ như đã nói với người vũ nữ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ!”  một giọng thơ thật là trìu mến, thích thú và vui sướng! Vui sướng đến ngỡ ngàng trước vẻ đẹp vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) với bộ xiêm y lộng lẫy lãng mạn trong một vũ điệu mang đậm màu sắc xứ lạ (man điệu). Chỉ bằng với bốn câu thơ mà Quang Dũng đã dựng được một bức tranh vừa phong phú về màu sắc đường nét và đa dạng về âm thanh.

Nếu như khung cảnh đêm liên hoan văn nghệ trong những câu thơ trên đem đến cho người đọc một không khí mê say ngây ngất thì cảnh sông nước vùng núi Tây Bắc lại gọi lên được cảm giác mênh mang, hoang dại và tĩnh lặng và mờ ảo thật chứa chan thi vị. Ở đây một lần nữa càng khẳng định rõ hơn những nét tài hoa, lãng mạn và giấc mộng mơ của người lính. Thiên nhiên ở chốn núi rừng chỉ có “Núi sương giăng, đèo mây phủ” khi cảnh chiều về đã mờ ảo lại càng mờ ảo thêm khi phủ sương mờ bảng lảng choàng lại thêm một tấm áo như thực như mơ. Qua hoài niệm khung cảnh Tây Bắc như hiện về trong kí ức của nhà thơ làm cho giọng thơ của tác giả cất lên như những lời tự hỏi “có nhớ? có thấy?” càng day dứt càng gợi cảm giác bâng khuâng xa vắng và đầy lưu luyến. Người tài hoa và lãng mạn ấy thấy bạt ngàn những hồn lau trong gió trong cây như xôn xao như một nỗi niềm:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

*Hình ảnh này ta đã từng gặp trong thơ của Chế Lan Viên:

Ai đi biên giới cho lòng ta theo với

Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình

Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi

Suốt một đời cùng với gió giao tranh

* Hay là những câu thơ viết về hồn lau trong gió gợi cảm giác về cảnh buồn vắng lặng tờ như thời tiền sử của huyền thoại của thi sĩ kiêm họa sĩ Hoàng Hữu:

Trường vắng mưa mờ buông dốc xa

Dày leo nửa mái sắc rêu nhoà

Người xa phơ phất hồn lau gió

Thổi trắng chân đồi như khói pha

Trong một khung cảnh sông nước, chiều sương mang đậm màu sắc cổ kính huyền thoại ấy hiện ra hình ảnh con thuyền độc mộc với cái dáng mềm mại của một cô gái và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Câu nói người xưa: “Thi trung hữu họa”  đúng với trường hợp này. Ngòi bút tinh tế của tác giả Quang Dũng chỉ phác hoạ vài nét mà không chỉ gợi được cái “hồn” của ngàn lau mà còn cả dáng rất tạo hình của cô gái lái đò người Mèo, người Thái, cái dáng ngả nghiêng tình tứ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” của những đóa hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ cuốn. Hai từ “thấy” , “nhớ” được tác giả dùng  hai câu thơ trên cũng khá tinh tế. Dường như hồn thiêng của bông hoa lau đã in hình rõ nét trong mắt tác giả cái dáng mềm mại thon thả của cô lái đò cùng bông hoa rừng đong đưa khắc sâu vào tâm trí nhà thơ vốn giàu tình yêu cảnh đẹp của non sông đất nước này. Không có tâm hồn nhạy cảm tài hoa thì không thể bắt rất nhạy những hình ảnh giàu hình sắc hoa như thế.

Bốn câu thơ trên như bức tranh thủy mặc với những nét vẽ chấm phá, tinh tế, mềm mại và tài hoa đã truyền được cái hồn của cảnh vật. Hơn thế, đọc đoạn thơ lên, người đọc cảm giác đoạn thơ không chỉ được khắc, được phổ vào trong những nốt nhạc tinh tế mà nhạc điều đó được cất lên từ một tâm hồn say đắm cảnh và người miền Tây Tổ quốc của người chiến sĩ Tây Tiến. Cho nên rất có lý khi Xuân Diệu nhận xét “Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như thể ngậm âm nhạc trong miệng”.

Đoạn thơ trên cũng thể hiện bút pháp tài hoa của tác giả. Qua đó thấy người đọc thấy cảnh đêm liên hoan văn nghệ, cái sông nước Tây Bắc mang một vẻ đẹp hiện thực lãng mạn mà huyền ảo với từng vần thơ và vừa giàu chất nhạc vừa giàu chất họa. Và đó cũng chính là sự kết hợp hài hòa tuyệt diệu giữa ba yếu tố: thơ, nhạc và họa trong thi phẩm của tác giả Quang Dũng.

4. Phân tích đoạn 2 Tây Tiến (mẫu 2)

“Tổ Quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng”

Nhà thơ lãng mạn Chế Lan Viên đã từng thốt lên khi ông đã cảm nhận được vẻ đẹp của đất nước ta. Vẻ đẹp ở đây không chỉ có ở những cánh đồng lúa mênh mông, bát ngát hay bờ biển rì rào cát trắng mà nó còn ở chính con người Việt Nam ta. Cùng với đề tài ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, con người, tác giả Quang Dũng đã khắc họa tài tình vẻ đẹp của vùng núi Tây Bắc và phẩm chất của người lính qua tác phẩm “Tây Tiến”. Ông đã sáng tác bài thơ vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh sau khi ông rời đi đơn vị cũ. Quang Dũng cũng gửi gắm mọi tâm tư, tình cảm và nỗi nhớ da diết của mình vào Tây Tiến, nổi bật hơn  là những kỉ niệm đẹp cùng với những hình ảnh đêm hội liên hoan và buổi chiều sương được thể hiện tinh tế qua những câu thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Tây Tiến là tên đoàn quân đã được thành lập năm 1947, chiến đấu ở vùng núi Tây Bắc. Đa số là những thanh niên tri thức Hà Nội. Ban đầu tác phẩm có tên “Nhớ Tây Tiến” nhưng để đảm bảo tính hàm súc cho bài thơ thì Quang Dũng đã đổi tên thành “Tây Tiến”. Dấu ấn của hội họa và âm nhạc được tác giả thể hiện nổi bật ở kỉ niệm đẹp và buổi chia ly trong miền nhớ của ông

Mở đầu của đoạn thơ là hình ảnh doanh trại lung linh, tưng bừng và vui như đi trẩy hội.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

Thông thường khi ta nhắc đến “doanh trại” thì sẽ nghĩ đến không khí nghiêm túc, khô khan của những anh chiến sĩ, bộ đội. Nhưng không phải trong thơ Quang Dũng hình ảnh doanh trại hiện lên cùng với những hội đuốc hoa cùng với động từ “bừng” tạo nên không khí vui tươi và sôi động. Ở đây các người lính được thoải mái, thư giãn sau nhiều chặng đường hành quân khó khăn, mệt mỏi. Động từ “bừng” như đã  làm rực sáng cả câu thơ, như ánh sáng tỏa sáng rực rỡ và mạnh mẽ khắp doanh trại. Cụm từ cảm thán ” kìa em” đã vang lên với sự ngỡ ngàng, kinh ngạc đồng thời lại đầy những cảm xúc dạt dào, trìu mến. Các cô gái Tây Bắc với những bộ xiêm y lộng lẫy, đẹp đẽ bước ra mang đến một hương sắc ngọt ngào, nhẹ nhàng tạo cho doanh trại không khí đầy tươi vui, hạnh phúc.Một đêm hội trà đầy ngập ánh sáng, chan hòa âm nhạc và vũ điệu và thắm thiết tình quân dân

Tiếp đến là hai câu thơ sau mang đến bản sắc dân tộc vùng Tây Bắc:

“Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Khèn là một nhạc cụ dân tộc ở núi rừng Tây Bắc, thường người Tây Bắc sử dụng loại nhạc cụ này trong các dịp lễ hội và các chàng trai và cô gái thì múa hoặc hát theo tiếng nhạc ấy. Tác giả đã đem vào trong thơ ca hình ảnh nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ở Tây Bắc. “Man điệu” ở đây chỉ có điệu nhạc hay điệu múa mang đậm đà bản sắc dân tộc xứ sở này. Tính từ “e ấp” thể hiện lên sự thẹn thùng, ngại ngùng của những cô thiếu nữ dân tộc đồng thời làm toát lên vẻ đẹp tinh tế, trong sáng, tinh tế của các cô gái. Tiếng nhạc hòa cùng các điệu múa nhẹ nhàng và uyển chuyển của các cô gái làm lay động, say mê những chàng thanh niên tri thức Hà Nội. Không khí ấy đã xua tan mọi muộn phiền, mỏi mệt của đoàn quân Tây Tiến, như tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ để tiếp tục trên chặng đường đầy khó khăn cùng với ý chí “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của người chiến sĩ. Trong không khí vui vẻ ấy, tâm hồn của người chiến sĩ đã hướng “về Viên Chăn xây hồn thơ”. Hơn đâu hết, đoạn thơ bộc lộ nét tài hoa và hồn thơ lãng mạng của tác giả Quang Dũng.

Hai câu thơ tiếp tả cảnh buổi chiều chia ly ở Tây Bắc, vừa tả thực vừa tả mộng tạo nên không gian huyền ảo và mộng mơ:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ”

Một hình ảnh buổi chiều sương lãng mạn, nhẹ nhàng và thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữ dội ở đầu bài. Một thế giới khác của thiên nhiên Tây Bắc đã được mở ra, không còn mạnh mẽ, không còn khúc khuỷu, thăm thẳm mà lại chuyển sang nên thơ và mơ mộng hơn. Đặc biệt là đại từ “ấy” tạo nên nét độc đáo cho những buổi chiều sương, như nhắc lại kỉ niệm đẹp những buổi chiều sương lung linh trong miền ký ức. Ở đây không phải là sương che lấp, che phủ mà sương thể hiện nỗi buồn man mác và nỗi lưu luyến của người đi Châu Mộc vào buổi chiều sương sớm. Sau này, cùng hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, đẹp đẽ nên thơ đó, Tố Hữu đã có câu thơ ngợi tả cảnh đẹp ở Châu Mộc:

“Nông trường Châu Mộc như hoa nở

Giữa núi rừng Tây Bắc hát ca”

Còn khi buổi chiều của thơ Quang Dũng ông đã miêu tả hình ảnh “hồn lau” tả dáng lau uyển chuyển, mỏng manh qua màn sương sớm, đồng thời mang đến làn gió thổi vào từng cây cỏ để tạo nên một không gian thiên nhiên đầy sức sống và mãnh liệt.

Hai câu thơ cuối đã thể hiện hình ảnh con người hòa quyện cùng thiên nhiên vô cùng thơ mộng:

“Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Bóng dáng ấy, người trên độc mộc với dáng vẻ lả lướt, thướt tha hòa vào cùng với sự làm duyên của những cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ. Với điệp ngữ “có nhớ- có thấy” làm tăng thêm xúc cảm, nỗi nhớ da diết và nồng nàn của tác giả dành cho nơi đây. Hình ảnh đã đối lập giữa dòng nước lũ và hoa đong đưa, dòng lũ cuốn trào mạnh mẽ với những cành hoa nhẹ nhàng lung lay, hai hình ảnh như đối lập hoàn toàn nhưng lại hài hòa và nên thơ. Bút pháp gợi lên mà không tả với những nét vẽ cách điệu đã tạo nên bức tranh đậm đà hội họa hòa với chất thi vị trữ tình lôi cuốn người đọc, đưa ta vào thế giới hoang sơ, cổ tích.

Ngòi bút hào hoa, tinh tế không kém phần thơ mộng, đầy lãng mạng, Quang Dũng đã phác họa nên bức tranh với những kỉ niệm đẹp đầy lung linh, huyền ảo và hình ảnh buổi chiều đó sương mang đậm sự lưu luyến, với nỗi nhớ nhung da diết. Chất họa, nhạc trong thơ ca Quang Dũng được bộc lộ hết ở khổ thơ.

Tây Tiến là tác phẩm để đời của nhà thơ Quang Dũng. Bài thơ vừa có mang tính cách mạng lại còn đậm nét trữ tình nghệ thuật. Mang đến cho người đọc có một thế giới khác của Tây Bắc, lung linh hơn và thơ mộng hơn đồng thời như cuốn nhật ký ghi lại những kỉ niệm đẹp nơi đây, chất chứa mãi trong miền ký ức, trong tim của tác giả.

5. Phân tích khổ 2 Tây Tiến (mẫu 3)

Tác giả Quang Dũng là nghệ sĩ rất đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh và soạn nhạc… nhưng thành công nhất vẫn chính là thơ ca. Các tập thơ tiêu biểu của nhà thơ Quang Dũng được bạn đọc biết đến nhiều như là “Mây đầu ô”, “Mùa hoa gạo”… Nhưng tên của Quang Dũng có lẽ đã gắn liền với bài thơ Tây Tiến. Bài thơ được ra đời vào năm 1948 in trong tập “Mây đầu ô” đó là bài thơ tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Bài thơ có những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây: “Doanh trại bừng lên hội đuốc … Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Tây Tiến là một phân hiệu bộ đội đã được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yếu đó là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân đội Lào bảo vệ biên giới phía Tây. Đến năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52. Tại đây Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác.

Sau khi rời đi đơn vị cũ chưa được bao lâu Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đoạn thơ tả bình giảng là đoạn thơ thứ hai trong bài Tây Tiến. Bốn câu đầu tiếp, nhà thơ mang đến cho người đọc không khí tươi vui đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa.

Kìa em xiêm áo tự bao giờ.

Khèn lên man điệu nàng e ấp.

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

“Doanh trại” đó là nơi đóng quân của Tây Tiến cũng là nơi diễn ra lễ hội văn hóa đậm đà tình quân dân. Đồng bào dân tộc tụ họp về đây để sinh hoạt và góp vui tinh thần với bộ đội Tây Tiến. Từ “bừng” gợi cảm giác ấm áp và gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi đã thành đêm hội. Ngọn đuốc nứa và đuốc lau thành “đuốc hoa” (“Đuốc hoa” là hoa chúc  cây nến đốt lên trong phòng cưới, đêm tân hôn).

Ở đây “đuốc hoa” có ý nghĩa gợi không khí ấm cúng, gợi niềm vui, hân hoan niềm hạnh phúc trong lòng các chiến sĩ. “Bừng” chỉ ánh sáng của ngọn đuốc hoa, của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười nói tưng bừng rộn rã. Tác giả Tố Hữu khi nhớ về Việt Bắc cũng từng viết về đêm liên hoan:

“Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”.

Ta có thể hình dung đêm hội mà Quang Dũng viết trên đây như thể một đám cưới tập thể. Từ “Kìa em” trong câu thơ thứ hai thể hiện một sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của lính Tây Tiến trước vẻ đẹp của những cô gái vùng cao trong trang phục “xiêm áo” lộng lẫy vô cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu nữ.

Quang Dũng đã phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Yêu say từ chính vóc dáng đến trang phục. Chính những trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa ấy của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ. Tác giả Quang Dũng không khỏi thán phục đến ngạc nhiên trước vẻ đẹp ấy. Em đã trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa.

Những thiếu nữ Mường, thiếu nữ Thái, những cô gái Lào xinh đẹp và duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong những bộ xiêm áo rực rỡ. Cũng có thể hiểu rằng người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo và tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Ngỡ ngàng là tiếng khèn “man điệu”.

Khèn là loại nhạc cụ của người dân tộc miền núi Tây Bắc còn “man điệu” là một điệu nhạc “lạ” đặc trưng văn hoá của con người nơi đây. hòa vào tiếng khèn ngất ngây ấy là điệu múa Lăm vông quyến rũ của những cô con gái Lào đã “xây hồn thơ” trong lòng các chàng lính trẻ. Chính cái lạ lẫm ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa. Chính trong không khí của âm nhạc và vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn người lính Tây Tiến thăng hoa, mọi mỏi mệt như bị đẩy lùi, thêm vào đó là lòng yêu đời và yêu miền đất lạ.

Chính vì thế mà mọi cảm giác mỏi mệt, mọi vất vả đều tan biến. Thay vào đó là niềm lạc quan, yêu đời hơn bao giờ hết nâng bước họ mạnh mẽ hơn trên con đường hướng về “Viên Chăn xây hồn thơ”. Từ đó chúng ta có thể thấy được rằng các chiến sĩ của chúng ta dù trong những giờ phút vui vẻ, thoải mái nhất thì tâm hồn họ vẫn luôn hướng về lí tưởng cách mạng cao đẹp. Bốn câu sau đó là khung cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng hoang vắng, tĩnh lặng và buồn thi vị.

Bốn câu thơ đó là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sươg ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

So với bốn câu thơ bên trên là hình ảnh không khí đêm lễ hội tưng bừng hoà hợp với những ánh sáng lung linh và tâm hồn trẻ trung, yêu đời của chiến sĩ Tây Tiến thì bốn dòng thơ tiếp theo,tác giả Quang Dũng đưa người đọc đến với hình ảnh con người và núi rừng Tây Bắc trong buổi chiều sương … với không gian bảng lảng khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra.

Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên theo chiều hướng thị hoá. Cái dữ dội, khốc liệt đã được đẩy lùi đi và thay vào đó là những hình ảnh nhẹ nhàng, thơ mộng. Hình ảnh đầu tiên là những hình ảnh chiều sương cho ta thấy nét đặc trưng vốn đã có của núi rừng nơi đây. Nhưng sương ở đây ko phải là sương lấp mà sương che hay sương phủ mà là “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy”. Nó gợi lên màu sắc bảng lảng, sương khói vừa có nỗi buồn man mác. Đại từ “ấy” đã làm rõ nghĩa hơn cho từ chiều sương để nhấn mạnh rằng đây là một buổi chiều sương đặc biệt, chiều sương trong nỗi nhớ đã thành kỷ niệm nên tình người cũng man mác và bâng khuâng.

Đoạn thơ đậm lên màu sắc hội họa. Cái thực của khí trời Tây Bắc, đó là cái mộng của không khí bảng lảng sương khói hiện lên một miền cổ tích. Có lẽ chất họa sĩ của tác giả Quang Dũng đã ăn vào thơ ở đoạn này. Nét bút phác thảo của nhà thơ  Quang Dũng thật là tài hoa. Chỉ vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con người hiện lên thật sinh động đầy những sức cuốn hút. Sông nước hoang dại như một bờ tiền sử đó là bên bờ lau lách và tác giả đã cảm nhận những cánh lau qua hai từ vô cùng tinh tế và đó là ”hồn lau”… gợi cảm giác hoang vắng, thật tĩnh lặng và giàu chất thơ sâu lắng vừa có chút gì đó thật thiêng liêng phảng phất chút tâm linh rừng núi.

“Nẻo bến bờ” có nghĩa đó là: nẻo – lối đi. Nẻo bến bờ là nhìn đâu đâu cũng thấy mênh mang hồn lau. “Hồn lau” – những cây lau không còn vô tri vô giác mà nó có linh hồn. Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế và tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ ấy.

“Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

Hồn của mùa thu đi

Ngàn lau xao xác trắng”

Không gian thật nên thơ ấy đã làm nền cho người thơ xuất hiện: Giữa những hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc hiện lên đầy sức sống và lãng mạn thì hình ảnh của con người nơi đây hiện lên mang một vẻ đẹp khỏe khoắn, bất khuất và kiên cường: “Có nhớ dáng người trên độc mộc”.

Điệp ngữ “có thấy – có nhớ” luyến láy như đã chạm khắc vào lòng người một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi. Độc mộc là loại thuyền được làm từ thân cây gỗ lớn, dài. Dáng người trên độc mộc ở đây có thể  thấy là hình ảnh mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái, Mèo đưa các chiến sĩ vượt sông. Cũng có thể hiểu là dáng hình kiêu dũng của người lính Tây Tiến đang chèo chống con thuyền vượt sông, vượt thác dữ tiến về phía trước. Tất cả những hình ảnh ấy đều đã để lại trong lòng của tác giả Quang Dũng một hình ảnh khó phai nhoà…

Thiên nhiên Tây Bắc vốn nổi tiếng với con sông Mã, dòng sông đã chứa trong nó biết bao dữ dội. Nhưng ở đây, dòng sông Mã đã hiện lên với sự nhẹ nhàng ấm áp đến kỳ lạ. Những cánh hoa rừng đã không bị ”dồi lên dập xuống” mà là “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Từ láy “đong đưa” đã được sử dụng rất gợi cảm: Cánh hoa rừng như đã cũng quyến luyến con người. Cánh hoa rừng như bàn tay vẫy chào người lính và tiễn người lính vượt sông đi đánh giặc. Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến chống Pháp mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn. Bên cạnh đó còn có các yếu tố nghệ thuật như: Ngôn ngữ thơ mộc mạc, hồn thơ mang đậm chất lãng mạn, hào hoa…

Những từ ngữ “có nhớ”, “có thấy” luyến láy, khắc họa nỗi nhớ: lưu luyến, bồi hồi. Tất cả đã tạo nên bài thơ hay và giàu giá trị. Tám câu thơ của khổ hai đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộn và trữ tình.

Chất nhạc, chất họa, chất mơ mộng hoà quyện chặt chẽ với nhau trong đoạn thơ tạo nên một thế giới uyển chuyển của cái đẹp. Từng nét vẽ của Quang Dũng đều mềm mại, tinh tế và uyển chuyển. Đây là đoạn thơ bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, lãng mạn của tác giả Quang Dũng trong tổng thể bài thơ.

6. Phân tích khổ 2 Tây Tiến (mẫu 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã góp thêm vào trang vàng của lịch sử dân tộc. Đã có từng rất nhiều tác phẩm nghệ thuật hình thành từ đề tài này. Nền thơ ca giai đoạn này đã mang đậm tinh thần yêu nước. Phải chăng vì thế mà đây cũng là giai đoạn văn học có nhiều thành công. Tây Tiến của Quang Dũng là một những trong những tác phẩm như vậy.

Hình ảnh của người lính quả cảm, kiên cường và ngày đêm chiến đấu bảo vệ đất nước vừa hào hùng vừa hào hoa đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc, người nghe. Đặc biệt là đoạn hai của tác phẩm:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Quang Dũng sinh vào đầu 1921 và mất năm 1988 là người làng Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây cũ nhưng ông chủ yếu sống ở Hà Nội. Ông là một trong những nghệ sĩ đa tài với nhiều thể loại thơ ca, nhạc và họa nhưng thơ ca là đỉnh cao nhất của ông. Ông là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám. Thơ ông thể hiện được tâm hồn nhạy cảm thơ mộng và đậm chất lãng mạn. Trong thơ còn cho thấy khả năng cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp của thiên nhiên, tình người.

Tây Tiến đã được sáng tác khi nhà thơ rời xa đơn vị Tây Tiến của mình một thời gian “Đoàn quân Tây Tiến sau một thời gian dài hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đoàn 52. Đại đội trưởng tác giả Quang Dũng ở đó đến cuối 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác, vị cũ chưa bao lâu khi ngồi ở Phù Lưu Chanh, anh đã viết bài thơ Tây Tiến”, (Lời kể của ông Trần Lê Văn – là bạn thân của Quang Dũng). Chính vì vậy mà bài thơ đã được viết dưới lăng kính của những hoài niệm với tâm trạng nhớ vô cùng da diết thật sự chơi vơi.

Đơn vị Tây Tiến đã được thành lập vào năm 1947 với mục đích phối hợp với quân đội nước Lào nhằm bảo vệ biên giới Lào – Việt, nhằm đánh tiêu hao quân địch tại Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến tại đây những vùng núi rừng khác trên đất Lào.

Địa bàn đang hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rộng lớn. Bao gồm toàn bộ khu vực vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và khu vực Thượng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tới Sầm Nứa vòng về miền tây Thanh Hóa. Những nơi này rất hoang vu và rất hiểm trở với núi cao, sông sâu và rừng núi có nhiều thú dữ. Người lính Tây Tiến hầu hết là những thanh niên, trai tráng Thủ đô và gồm nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.

Qua đoạn phân tích đoạn hai bài thơ Tây tiến từ những câu thơ đầu, Tây Tiến mở ra trước mắt người đọc những không gian hùng vĩ, hiểm trở đầy nguy hiểm của núi rừng Tây Bắc. Trong tám câu thơ tiếp của đoạn thơ thứ hai khiến người đọc sẽ được hòa mình vào  không gian tưng bừng của đêm liên hoan văn nghệ tại doanh trại với sự lãng mạn, nên thơ của chiều sương chốn Châu Mộc mộng mơ:

Bức tranh thật sự lãng mạn của đêm văn nghệ thấm đậm tình quân dân, “quân với dân như cá với nước” được thể hiện thông qua bốn câu đầu tiên của bài thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

Với nỗi nhớ từ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói  Mai Châu mùa em đã thơm nếp xôi”, tác giả bỗng nhớ đến “hội đuốc hoa” khi doanh trại đã bừng lên vào đêm văn nghệ thắm thiết tình quân và dân. Đuốc hòa vốn là cây nến thắp đã lên trong phòng vào đêm tân hôn. Rồi bỗng nhớ đến Truyện Kiều có câu: “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa” (ở dòng 3096).

Từ hình ảnh ấy, Quang Dũng đã sáng tạo thành “hội đuốc hoa” để nhớ về đêm liên hoan văn nghệ, đêm đốt lửa trại giữa những cán bộ chiến sĩ của đoàn binh Tây Tiến với những người dân đồng bào của các bản mường nơi đây. “Bừng” là động từ mạnh hiện lên nhầm vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng rực, và vừa là để tả âm thanh của tiếng cười nói, tiếng khèn vang lên trong đêm hội.

Chữ “kìa” là đại từ để chỉ một đối tượng nào đó từ phía xa; trong hoàn cảnh này ta có thể thấy được sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của những người chiến sĩ trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các “em”, các “nàng” đến dự trong bộ xiêm áo lộng lẫy và xinh đẹp. Hình ảnh “nàng e ấp” là một trong những nét vẽ tài hoa, vô cùng có hồn đã gợi tả nên vẻ đẹp duyên dáng và kín đáo và tình tứ và tinh tế của những nàng thiếu nữ miền Tây.

Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn,  màu xiêm áo ngọt ngào, vẻ đẹp kiều diễm của các “em”, các “nàng” như đã “xây hồn thơ” trong các anh lính trẻ. Những con người trẻ chung, xinh đẹp, hào hoa, đa tình; còn ngòi bút của thi nhân thì lại rất tài hoa và rất  lãng mạn.

Thông qua cuộc hội đuốc hoa khi phân tích đoạn hai bài thơ Tây Tiến, ta thấy được ngày càng thấy đời sống tinh thần phong phú của đoàn binh Tây Tiến tại nơi chiến trường miền Tây gian khổ.

Viết tiếp đoạn thơ trên là bốn câu thơ tiếp theo trong dòng hồi tưởng “trôi” về miền đất mới – Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La – nơi có nhiều bãi cỏ rộng bát ngát, mênh mông, nơi này có một dãy Pha Luông cao 1880m, nơi đó có bản Pha Luông sầm uất con người Thái.Tác giả Quang Dũng là người lính với tâm hồn thi sĩ đã khai phá ra biết bao nhiêu vẻ đẹp kỳ thú của nơi Châu Mộc. Năm tháng cứ thế trôi qua, chỉ còn lại bao nhiêu kỉ niệm, cảnh vật và con người của miền đất lạ ấy trở thành một mảnh tâm hồn của bao người:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

“Chiều sương ấy” đó là buổi chiều đầy sương trắng đang phủ mờ khắp núi rừng tại chiến khu vào buổi chiều thu hôm ấy in sâu đậm vào trong hồn người; tất cả bây giờ chỉ còn lại là: “khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất lạ hóa tâm hồn” (tác giả Chế Lan Viên). “Hồn lau” ở đây chính là hồn mùa thu. Hoa lau nở trắng như những lá cờ, những bông lau đung đưa theo hồn gió tạo nên tiếng kêu xào xạc trong gió thu nơi bờ sông và bờ suối.

Với tâm hồn tài hoa,tác giả Quang Dũng cảm nhận về vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc thông qua những cảnh sắc “chiều sương” và “hồn lau nẻo bến bờ”. Những thi liệu ấy tạo nên những vẻ đẹp cổ điển trong bức tranh suối rừng nơi đây. Thấp thoáng ở đằng sau những vần thơ “Tây Tiến” là những câu cổ thi trong các bài thơ thời xưa:

“Sương đầu núi buổi chiều như dội,

Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…”

( Đoàn Thị Điểm – Đặng Trần Lâm )

hay:

“Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

Hồn mùa thu sắp đi

Ngàn lau xao xác trắng”.

(Nhà thơ Chế Lan Viên)

Phân tích đoạn hai Tây Tiến ở trên, ta cũng thấy điệp ngữ “có thấy” và “có nhớ” là tác giả đang hoài niệm về kỉ niệm về chiều sương Châu Mộc cố thêm phần man mác và bâng khuâng. Họ nhớ cảnh rồi lại đến nhớ đến người. Những dòng hồi tưởng của thi sĩ qua cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây đó, tại nơi cao nguyên Châu Mộc được thể hiện lên cách tuyệt đẹp với bút pháp vô cùng tài hoa và với những hồn thơ lãng mạn.

Nơi núi rừng Tây Bắc là chốn “rừng thiêng nước độc” vô cùng hoang vu, hẻo lánh và chất chứa nhiều những hiểm nguy. Thế nhưng, với tâm hồn vô cùng lạc quan, yêu đời, niềm tin vào một tương lai tươi sáng của một thời đại mới đã được khai phá với bao nhiêu vẻ đẹp thơ mộng và xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên, con người nơi Tây Bắc.

Những hoài niệm về chiến trường, núi rừng nơi đây như được chắt lọc từng chi tiết nhỏ trong tâm hồn của thi sĩ.

Đoạn thơ trên với bút pháp chấm phá mềm mại và uyển chuyển, ngôn ngữ đậm chất thơ và chất nhạc. Ta có thể thấy được cuối mỗi câu thơ đều kết thúc bằng vần trắc đã tạo nên một nhạc điệu của bài thơ. Bên cạnh đó với thể thơ thất ngôn với nhịp thơ 4/3, giọng điệu phù hợp với cảm xúc qua từng câu từng chữ. Cùng với việc sử dụng khéo léo câu hỏi tu từ đã làm cho bức tranh đêm văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây hiện lên vô cùng chi tiết thơ mộng.

Tóm lại ta có thể nói phân tích đoạn hai Tây Tiến đã cho ta để lại những ấn tượng khó quên trong lòng người đọc bởi nét lãng mạn hiện lên giữa hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh. Há chăng bài thơ đã cùng góp tiếng nói độc đáo vào những bài thơ kháng chiến viết về người lính thời kỳ chống Pháp cứu nước. Những bài thơ ấy đã vô cùng làm nên một bức tượng đài to lớn về những người chiến sĩ vừa hào hùng vừa. Nó đã gieo vào lòng người đọc những tình cảm yêu thương, tình quân dân thắm thiết và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta.