Bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến hay nhất để các bạn tham khảo

0

Phân tích đoạn 1 Tây Tiến (phân tích 14 câu đầu bài tây tiến) của tác giả Quang Dũng trong bài viết sau đây bao gồm dàn ý phân tích đoạn một Tây Tiến kèm theo các bài văn mẫu phân tích khổ một Tây Tiến hay chọn lọc ra sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các bạn học sinh khi nghiên cứu và học tập tác phẩm Tây Tiến trong chương trình Ngữ văn lớp 12.

Tây Tiến là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng, được in bên trong tập Mây đầu ô. Khổ đầu bài thơ Tây Tiến đã cho người đọc cảm nhận được bức tranh thiên nhiên hùng vĩ nơi binh đoàn Tây Tiến đã từng hoạt động và chiến đấu.

Trong bài viết này chia sẻ các bài văn mẫu phân tích đoạn một bài thơ Tây tiến của Quang Dũng hay và sâu sắc, mời các bạn cùng tham khảo những mẫu văn hay nhất.

Tham khảo thêm:

1. Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 1 Tây Tiến

Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 1 Tây Tiến
Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 1 Tây Tiến

2. Dàn ý phân tích đoạn 1 Tây Tiến

Dàn ý phân tích khổ 1 Tây Tiến (mẫu 1) | 14 câu đầu bài Tây Tiến

*Dàn ý Mở bài phân tích khổ 1 Tây Tiến:

– Giới thiệu đôi chút về nhà thơ Quang Dũng

– Giới thiệu về tác phẩm văn học Tây Tiến

*Dàn ý Thân bài phân tích khổ 1 Tây Tiến:

– Hai dòng thơ đầu: Nỗi nhớ bao trùm và mạch cảm hứng chủ đạo của bài thơ

  • “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.
  • “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của người chiến sĩ từ phố thị.

⇒ Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào sâu tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải và lạc lõng trong lòng tác giả.

– Hai câu thơ tiếp:

  • “Sài Khao” và “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về những địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến và mở rộng sang những không gian khác bao trùm cả bài thơ.
  • Nỗi nhớ ở đây dường như được dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi nơi và mỗi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng của tác giả.
  • Những kỷ niệm như  “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao và khao khát  của tác giả.

– Bốn câu  thơ tiếp theo : “Dốc…xa khơi”:

  • Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của những chiến sĩ khi hành quân ở một nơi xa nhà.
  • “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn thi sĩ, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến sĩ trong chiến trường gian khổ.
  • “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự lãng mạn sự sống và còn cả sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự yên tĩnh, chốn dừng chân cho người chiến sĩ.

– Hai câu thơ tiếp theo “Anh bạn…quên đời”:

  • Sự hy sinh cao cả của người chiến sĩ, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng hi sinh và quên mình vì Tổ quốc.
  • Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho những người chiến sĩ và những đồng đội của mình.

– Bốn câu kết .: “Chiều chiều…nếp xôi”

  • Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ kiểu mới, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng linh thiêng của đất nước và độc của ác thú.
  • Sự tỉnh lại sau khoảng thời gian tĩnh lặng của tác giả kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ da diết, nồng thắm, nhớ tình quân dân ấm cúng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu bên cạnh những người đồng đội của mình.

* Dàn ý Kết bài phân tích khổ 1 Tây Tiến:

Khái quát lại về giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.

Dàn ý phân tích đoạn 1 Tây Tiến (mẫu 2) | 14 câu đầu bài Tây Tiến

* Dàn ý Mở bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến:

Giới thiệu đôi chút về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

Lối dẫn dắt giới thiệu khổ thơ thứ nhất.

“Tây Tiến” là bài thơ của người lính nói về người chiến sĩ  – anh Vệ quốc quân thời chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, hào hùng. Những kỉ niệm thời cầm súng chiến đấu và những tình cảm dành cho mảnh đất quê hương, cho đồng đội cùng dầm mưa dãi nắng biết bao tháng ngày được Quang Dũng gửi qua nỗi nhớ tha thiết mà mênh mang, sóng trào . Khổ thơ đầu tiên của tác phẩm được nhiều người đọc đặc biệt cảm thấy ấn tượng khi tìm hiểu và cảm nhận về bài thơ.

* Dàn ý Thân bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến:

Giới thiệu đại khái về tác giả, tác phẩm:

+ Tác giả:

Quang Dũng là một nhà thơ của người con xứ Đoài mây trắng, thuộc Hà Tây,Thành Phố Hà Nội.

Tác giả là một nhà thơ có tâm hồn thi sĩ vì “trong thơ có nhạc, có họa”.

Là một hồn thơ trung hậu, thiết tha với Tổ Quốc, con người quê hương dân tộc; một cái tôi hào hoa, thanh lịch, giàu chất lãng mạn xong lại rất mực hồn nhiên,chất phác,đến nỗi kì lạ.

+ Tác phẩm:

Sản Xuất từ: tập “Mây đầu ô” (1986).

Hoàn cảnh sáng tác: năm 1948, Quang Dũng phải rời đơn vị của mình chuyển sang đơn vị khác tại Phù Lưu Chanh.

Bài thơ được viết trong nỗi nhớ, là kỉ niệm của nhà thơ về những ngày tháng sống cùng đồng đội trong binh đoàn Tây Tiến.

Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: một nỗi nhớ mênh mang, tha thiết về những kỉ hùng, hào hoa, qua những tháng ngày gian nan mà đáng nhớ.niệm đẹp trên chiến trường khói lửa, với đồng đội, với đoàn quân Tây Tiến hào 

* Dàn ý Kết bài phân tích đoạn 1 Tây Tiến:

Khái quát lại về giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.

3. Phân tích đoạn 1 Tây Tiến của Quang Dũng (mẫu 1)

“Tây Tiến” của Quang Dũng có thể nói là một trong những bài thơ tươi thắm nhất của làng thơ viết về anh bộ đội cụ Hồ trong thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ngay từ khi ra đời đã tạo một sức sống hết sức mạnh mẽ, bền bỉ và khắc sâu trong lòng người đọc. Sức sống ấy có được là nhờ sự mãnh liệt rành mạch của Quang Dũng đã từ những cảm hứng vừa hiện thực, vừa xa hoa lãng mạn khi khắc họa hình tượng người Lính Cụ Hồ như một khúc ca bi tráng vang lên giữa một bản đại hùng ca của toàn dân tộc trong những tháng năm bảo vệ Tổ Quốc của mình. Hình tượng người lính với sự hòa trộn các sắc màu vừa hiện thực vừa lãng mạn đã được hiện ra ngay từ phần thứ nhất của bài thơ, phần mô tả vẻ đẹp của người chiến sĩ gắn liền với những chặng đường hành quân của họ. Thiên nhiên và con người đan xen hoà quyện lẫn nhau để tạo nên sự hoành tráng của bức tranh cuộc sống, sự kỳ vĩ lớn lao của con những người lính Cụ Hồ.

“Tây Tiến”, nó thực chất là những hoài niệm đầy nhớ thương và tự hào của Quang Dũng về những người đồng đội của mình trong quân đoàn Tây Tiến, quân đoàn có nhiệm vụ từ Hà Nội, Hà Tây tiến thẳng lên Tây Bắc giải phóng vùng biên giới Việt-Lào rồi giúp người bạn Lào giải phóng vùng thượng Lào, đã tạo nên một vùng an toàn cho chiến hào của chúng ta; về những tháng năm vô cùng gian nan và cực khổ nhưng rất đỗi hào hùng của quân đoàn Tây Tiến gắn liền với những miền đất mà họ đã đi qua, đã cùng nhau chiến đấu và chiến thắng. Sau những bước chân chiến trường, Tây Tiến, đoàn binh đã được phiên chế thành những đơn vị khác nhau. Vì thế bài thơ mới đầu có tựa đề “Nhớ Tây Tiến”, về sau tác giả đã đổi thành “Tây Tiến”.

Bài thơ, như những dòng ghi chú hoài niệm cuối cùng, được làm tại Phù Lưu Chanh, một làng ven bờ sông Đáy. Có lẽ vì thế mà nỗi nhớ Tây Tiến lại được bắt đầu bằng nỗi nhớ về một dòng sông với âm hưởng vô cùng da diết

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”

Đó là âm hưởng ngân vang từ những chữ “xa rồi” và chữ “ơi” đầy cảm xúc nhớ thương. Nhà thơ như để tiếng gọi thương yêu “Tây Tiến ơi” vọng về với một thời gian khó nhưng tình nghĩa, đầy những hy sinh nhưng cũng đầy những gắn kết, vọng về một Tổ Quốc xa xôi, vọng tới những người chiến sĩ của mình dù nằm lại nơi xa xứ hay đang chiến đấu ở những nơi chiến trường khác nhau. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”, thấm đẫm biết bao nỗi nhớ, niềm thương yêu của Quang Dũng dành cho những đồng đội của mình nơi xa xứ.

Hình tượng dòng sông Mã mở đầu cho kỷ niệm về Tây Tiến như một sự khẳng định giao hưởng hào hùng, bi tráng của những “tháng năm Tây Tiến” đã không thể phai phôi trong kí ức không chỉ mỗi người lính Tây Tiến mà của cả dân tộc, của cả Tổ Quốc. Dòng sông Mã đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh, cho vẻ đẹp của quân đoàn Tây Tiến. Và Quang Dũng đã để con sông Mã ấy xa dần, xa dần nhưng vẫn đi đến cuối cùng bài thơ để lúc thì được tác giả nói lên thành những con thác chiều chiều oai linh gầm thét, lúc thì thành dòng nước lũ với con thuyền độc mộc, với hoa đong đưa và cuối cùng là hiện diện một cách đầy đủ trong khúc ca bi tráng của nó khi “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Và phải chăng dòng sông Mã ấy cũng chính là con sông cảm xúc mà nhà thơ đã từ nó thể hiện bao nhiêu tự hào, cảm phục, nhớ thương đối với những người chiến sĩ của mình.

14 dòng thơ mở đầu là sự khắc tạo hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến gắn liền với quãng đường hành quân gian nan và cực khổ của họ. Vì thế thiên nhiên được mô tả cũng gắn liền với những chặng đường và bước chân hành quân này. Thiên nhiên và con người như đan xen, như hòa quyện vào với nhau. Dừng lại những chặng đường hành quân của người chiến sĩ Tây Tiến, 14 dòng thơ như những thước phim tư liệu nhưng lại đầy giá trị nghệ thuật về cuộc sống, cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của người chiến sĩ Tây Tiến.

Thiên nhiên HÙNG VĨ + THƠ MỘNG

Trước hết chúng ta được thấy Quang Dũng đã tạo ra trong Tây Tiến một thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa bí hiểm và có đôi chút yên lặng, vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt như một cái nền làm nổi bật hình tượng người chiến sĩ.

Cho nên sau câu thơ như một tiếng gọi da diết “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !” là hình ảnh của một vùng rừng núi non sông bao la như hiện hữu trong ống kính của người nghệ sĩ quay phim, như đang chơi vơi trong nỗi nhớ của Quang Dũng. “Nỗi nhớ chơi vơi” là một sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ, bởi chơi vơi mang ý nghĩa của việc chỉ không gian. Không gian tồn tại của sự vật, đi vào nỗi nhớ của Quang Dũng “chơi vơi” trở thành không gian của tâm trí, của cảm xúc. Từ bức hình toàn cảnh “chơi vơi” một nỗi nhớ ngày, kỉ niệm được như ống kính quay phim làm hiện lên những chặng đường đã qua của quân đoàn Tây Tiến với những địa điểm, không phải là không có sự lựa chọn mà một cách kỳ công, gợi biết bao nhiêu về sự xa xôi hiểm nguy như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu…Những địa danh và những danh lam với người đọc thuở ấy còn đầy bí hiểm, hoang sơ, không những thế nó từng khiến Vũ Quần Phương cho rằng 2 chữ “Mường Hịch” nghe như bước chân cọp rình ngó người, còn 2 chữ “Mai Châu” tự nó đã mang sẵn mùi hương của nếp rừng. Mới biết sức gợi tả của các địa danh thôi cũng đã có thể làm lung lay tâm trí tưởng tượng của người đọc.

Bức tranh thiên nhiên trong Tây Tiến của nhà thơ còn vô cùng hào nhoáng đặc sắc\ bởi nó được tạo nên từ một thứ ngôn ngữ rất giàu tình cảm dành cho những người lính. Mô tả thiên nhiên mà ta như thấy những bước chân quả cảm và mang đầy tình cảm dành cho Tổ Quốc của đoàn binh Tây Tiến đang tiến lên bằng mọi gian khổ mà thiên nhiên thử thách, mọi hiểm nguy mà thiên nhiên đe doạ. Ta không chỉ được nhìn một Sài Khao sương lấp, một Mường Lát hoa về trong đêm hơi mà thấy cả những chặng đường khúc khuỷu, cheo leo

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời – Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống – Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi “

Đó là hình ảnh trập trùng dốc đứng đèo cao như dựng lên trước mắt những người lính Tây Tiến. Những thanh trắc tiếp nối nhau tạo cảm giác về sự gian khó, gập ghềnh và khúc khuỷu. Điệp từ “dốc” như mở ra trước mắt người đọc hình ảnh chân dung những con dốc tiếp nối nhau lên tới trời. Nhịp của câu thơ càng làm tăng thêm nỗi vất vả và sự hối thúc của người lính bởi nó như tiếng thở hối hả, giục giã, gấp gáp. Đó là nhịp điệu:

Dốc lên / khúc khuỷu / dốc / thăm thẳm

Đó là một nhịp điệu không mấy khi thấy trong câu thơ 7 chữ cổ điển: 2/2/1/2. Hơn nữa tác giả còn sử dụng liên tiếp những từ láy gợi hình, những từ láy mà tự nó đã có giá trị biểu tượng như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, tiếp đó là “heo hút”.

Tuy nhiên cần phải thấy thơ của tác giả có một đặc điểm rất nổi bật, bao trùm, đó là những hình ảnh tương phản có giá trị tinh thần và nâng đỡ lẫn nhau về mặt cảm xúc. Cho nên những “dốc lên”, “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đã trở thành vô nghĩa trong sự thử thách của thiên nhiên đối với người lính, người chiến sĩ. Vì sau tất cả những thử thách ấy, ta bỗng bắt gặp một cảm xúc đầy kiêu ngạo của người lính. Người lính đã bất chấp mọi thử thách để vươn tới một tầm cao vợi lộng giữa đỉnh vinh quang của chiến thắng. Quang Dũng đã tạo lên một bức ảnh hết sức bất ngờ nhưng có phần nhẹ nhàng từ sự tương phản này, hình ảnh “súng ngửi trời”. Từ hình ảnh ấy, người chiến sĩ hiện ra rất thực, thực với những người chiến sĩ xuất thân từ học sinh, sinh viên trí thức Hà Nội. Đó là hình ảnh được hiện ra từ cái nhìn của những người chiến sĩ trẻ thông minh mà dí dỏm, những người lính đã vượt qua muôn trùng trắc trở để vươn tới tận trời, để súng ngửi trời. Không phải là những người chiến sĩ như người chiến sĩ trong đoàn binh Tây Tiến khó có thể tưởng tượng từ “mũi súng” đến “súng ngửi trời”

Thời đại đã đem đến cho Quang Dũng không chỉ một liên tưởng lạ lùng, kỳ thú mà còn là hình tượng thơ hết sức hũng vĩ. Khẩu súng cùng với người chiến sĩ như đang đứng ở đỉnh cao của thời đại gợi ta nhớ tới hình ảnh người lính bảo vệ quốc trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão:

“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu”

Hình tượng người anh hùng vệ quốc cầm ngang ngọn giáo đứng giữa non sông hoặc người chiến sĩ trong câu thơ của Tố Hữu. “Rất đẹp hình ảnh lúc nắng chiều – Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo – Núi không đè nổi vai vươn tới – Lá nguỵ trang reo với gió đèo” ( Lên Tây Bắc )

Song ở câu thơ của Quang Dũng, người chiến sĩ thật hồn nhiên và dí dỏm, vừa thật, vừa khái quát, vừa giàu ý nghĩa tượng trưng.

Thiên nhiên có lúc vụt hiện ra từ những câu thơ giàu giá trị tượng hình, một tượng đài nghìn thước. Đó là câu thơ:

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Không ít người khi đã đọc về bài thơ yêu thích câu thơ này vì sự ngắt nhịp giữa dòng đã bẻ gập câu thơ , tạo nên cái hùng vĩ và đỉnh cao nghìn thước kia. Nhưng thực ra, chính độ cao nghìn thước ấy được tạo nên từ cấu trúc ngữ nghĩa của câu thơ. Tác giả đã tạo nên cái tương phản giữa nghìn thước lên và nghìn thước xuống để đứng giữa bài thơ là cái ngất trời của một chữ “cao”. Chính những từ ngữ nghĩa ấy đã hiện lên đỉnh cao nghìn thước giữa câu thơ. Không những thế, câu thơ với chữ “lên”, “xuống” còn nói ra hình ảnh trập trùng của quân đoàn Tây Tiến đang vượt những thử thách.

Mô tả thiên nhiên, Quang Dũng chỉ nhấn mạnh sự dữ dội hiểm trở của nó bên cạnh đó gợi ra hình ảnh hết sức mộng mơ. Bên cạnh cái hiểm nguy của cao nghìn thước, của con thác gầm thét, của Mường Hịch cọp trêu người còn những hình ảnh khung cảnh của Lũng Sa

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Một câu thơ toàn thanh bằng gợi lên cái mênh mông xa xăm, chơi vơi. Sự tương phản về thanh điệu nó cũng đã gợi cái trập trùng của núi sông nhưng đặc sắc hơn còn hơn là chất lãng mạn gợi ra từ một khung cảnh thiên nhiên như vậy. Phải là người chiến sĩ đầy chất thơ trong tâm hồn mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy sau khi đã vượt đèo thác và non sông hùng vĩ của đất nước qua cồn mây và  đạp bằng đỉnh cao nghìn thước.

Nói tới thiên nhiên trong Tây Tiến, không thể không nói đến một thiên nhiên hùng vĩ như một cái nền làm nổi bật vóc dáng của những người lính ở những câu thơ này. Quang Dũng đã mô tả thiên nhiên để mô tả người lính. Quang Dũng đã diễn tả thiên nhiên bằng hình, âm, và có cả nhịp điệu và đặc biệt là bằng cảm hứng lãng mạn để sự hiểm nguy của thiên nhiên chỉ càng khơi gợi cảm hứng chinh phục của những người chiến sĩ bảo vệ Tổ Quốc và sự phi thường của họ.

Đó là cảm hứng có lẽ có sự ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn như “Nhớ rừng” của Thế Lữ, sự ảnh hưởng từ câu thơ:

“Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng 

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”

Đến câu thơ:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét”

Cảm hứng lãng mạn ở Tây Tiến còn là sự ảnh hưởng từ tâm hồn thơ lãng mạn của Lý Bạch những câu thơ “Dốc lên … ngửi trời” đã làm gợi ta nhớ đến “Thục Đạo Nan” của Lý Bạch

“Thục đạo nan, thục đạo chi nan 

Nan ư thướng thanh thiên”

Đọc câu thơ:

“Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Ta lại nhớ đến “Thục đạo nan” với câu thơ:

“Triêu tỵ trường xà – Tịch tỵ mãnh hổ”

Con đường Tây Tiến không khác gì quãng đường vào “Thục” ngày xưa trong câu thơ của Lý Bạch. Chính Quang Dũng cũng nói về sức ảnh hưởng trong các câu thơ của Lý Bạch.

Với 14 dòng thơ mở đầu, tuy hình ảnh người chiến sĩ chỉ thấp thoáng ẩn hiện giữa thiên nhiên qua ống kính quay chậm và cận cảnh của Quang Dũng những đoạn thơ vẫn khắc họa những vẻ đẹp hết sức đặc sắc từ ý chí, nghị lực đến khí phách, tâm hồn của đoàn quân Tây Tiến. Hình tượng người chiến sĩ ở đây cũng mang màu sắc được hoà hợp từ cảm hứng hiện thực cho đến cảm hứng lãng mạn, một sự hòa hợp mang tính đặc trưng của thơ Quang Dũng. Hiện thực và lãng mạn luôn đan xen lẫn nhau trong các câu thơ trong từng bức ảnh.

Đó là hình ảnh người chiến sĩ hiện ra như một đoàn quân mỏi mệt nhưng cũng lại là người lính tâm hồn tràn đầy chất nghệ sĩ nên giữa bao nhiêu mỏi mệt vẫn nhận thấy  được vẻ đẹp của núi rừng, vẻ đẹp của một “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Người lính như thả hồn vào cõi mộng của đêm hơi giữa non sông rừng núi, tận hưởng hương thơm của hoa rừng. Dễ hiểu câu thơ ” Mường Lát hoa về trong đêm hơi” như một cách điệu hình ảnh đoàn quân Tây Tiến với những bó hoa lửa trên tay, hành quân qua Mường Lát như một người nào đó đã nói thì sẽ không nghĩ hiểu hết được ý tưởng của tác giả muốn làm nổi bật cái tinh tế, cái thi vị- chất thơ như một vẻ đẹp trong tâm hồn người chiến sĩ yêu đất nước.

Đó còn là hình ảnh những người chiến sĩ vượt muôn trùng dốc với bao nhiêu khó khăn bởi những “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” nhưng đột nhiên lại hiện lên ở tầm cao đỉnh trời trong tiếng cười mang đầy tính tự do và lạc quan với chi tiết “súng ngửi trời”. Ta như nghe thấy tiếng cười gạt bỏ mọi mệt nhọc gian nan, bỏ hết cát bụi  chiến trường trên quần áo người chiến sĩ. Thực tế như đã nói, cho đến “Tây Tiến”, chưa một nơi nào trong văn học nước ta, người chiến sĩ vệ quốc, anh bộ đội Cụ Hồ được đặt ở một đỉnh cao như vậy. Đó là hình ảnh người chiến sĩ vượt những đỉnh cao nghìn thước không chỉ là đỉnh cao của thiên nhiên mà còn là đỉnh cao của những khó khăn và đầy thử thách gian nan, thử thách nhưng tâm hồn vẫn thảnh thơi, vẫn mơ mộng khi để lòng trải ra mình mênh mông giữa khung cảnh

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đó còn là hình ảnh về sự hy sinh lặng lẽ mà rất hào hùng của những người chiến sĩ Tây Tiến dọc theo chặng đường hành quân. Nhớ thương da diết trong 2 chữ “anh bạn” mà nhà thơ đã nói về những chiến hữu của mình bởi đó là những người bạn đã nằm lại dọc đường hành quân. Nhưng Quang Dũng không thể hiện nỗi đau ấy thành sự bi luỵ khi nhà thơ viết về sự hy sinh của những người bạn như nói về giấc ngủ của họ. “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đời”, thế nhưng tinh thần của họ để lại và cùng sông núi dõi theo bước đi của đồng đội trên chiến trường bảo vệ Tổ Quốc . Họ coi hy sinh nhẹ nhàng như được vào giấc ngủ nhưng sông núi lại để niềm nhớ thương và kiêu hãnh hoá thân thành những ngọn thác, những ngọn núi và cả từng cơn gió để chiều chiều oai linh gầm thét, vừa thể hiện nỗi đau xé lòng lại vừa thể hiện khúc tráng ca muôn đời của non sông hát về sự hy sinh anh dũng của họ.

Thủ pháp tương phản được sử dụng một cách triệt để để làm vút cao lên vẻ đẹp tâm hồn hết sức hào hoa và lãng mạn của người lính, để dựng lên hình ảnh những người chiến sĩ dẫu sống giữa một vùng đất hoang sơ đầy gian nan nguy hiểm, nơi cọp trêu người, nhưng tâm hồn họ vẫn ngời lên một vẻ đẹp nho nhã, hào hoa và rất thi sĩ trong câu thơ:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi “

Bao nhiêu lãng mạn gửi gắm vào những chữ như: “nhớ ôi Tây Tiến…”, “Mai Châu mùa em …”. Đó là những chữ đã để lại trong tâm hồn người chiến sĩ những vẻ đẹp của vùng miền núi hoang sơ kia , vẻ đẹp mang đậm tình người đối với các chiến sĩ với “cơm lên khói” và “mùa em thơm nếp xôi”. Lòng người Tây Tiến nhớ mãi “mùa em”, mùa những người chiến sĩ Tây Tiến gặp em giữa khung cảnh hạnh phúc của xóm làng khi được gặp những người lính giải phóng. Hương nếp xôi cũng từ mùa em mà thơm mãi trong tâm hồn người chiến sĩ cụ Hồ.

Ở 14 dòng thơ mở đầu chủ yếu là khắc tạo bức tranh thiên nhiên vô cùng hoang vu, hiểm nguy thì cũng phải để ý thấy Quang Dũng muốn từ thiên nhiên ấy mà làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ Tây Tiến với tầm vóc lớn lao trong công cuộc giải phóng đất nước, với ý chí quật cường, với tâm hồn lớn lao niềm tin, niềm lạc quan đã tạo nên sức mạnh san bằng mọi gian khổ hy sinh để đi tới đỉnh vinh quang. Đây là câu thơ có sức tạo hình hết sức độc đáo và ẩn chứa rất nhiều điều thú vị. Cảm hứng lãng mạn đã làm cho hình tượng người chiến sĩ trở nên rực rỡ và hào hùng. Hình tượng nghệ thuật vừa ăn sát hiện thực lại có sự bay bổng trong trí tưởng tượng, người hiểu của người đọc bởi chất lãng mạn và hào hùng của hồn thơ Quang Dũng.

4. Phân tích khổ 1 Tây Tiến của Quang Dũng (mẫu 2)

Tây Tiến đã được xem là đứa con đầu lòng tráng kiện và tài hoa của tác giả Quang Dũng và của cả nền thơ kháng chiến của văn học Việt, đặc biệt là của những năm đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian nan và khổ cực. Những chàng thư sinh áo trắng đã rời bỏ bút mực xanh lên đường đi chiến đấu vì lòng yêu Tổ quốc, quê hương tha thiết, và vì nền hòa bình của dân tộc, họ đi với trái tim kiêu hùng, anh dũng nhưng vẫn mang được những nét lãng mạn, hào hoa của lớp trẻ tri thức trốn Hà Thành. Điều ấy được nhà thơ Quang Dũng tái hiện một cách rất xuất sắc trong bài thơ Tây Tiến bằng với ngòi bút phóng khoáng, hồn hậu và rất mực tài hoa và lãng mạn. Với khổ thơ đầu, nhà thơ cũng đã hướng về nội tâm của người lính chiến, cũng chính là bản thân đối với tác giả với những nỗi nhớ tha thiết của miền đất Tây Bắc và vẻ đẹp vượt lên khó khăn gian khổ của người lính nơi Tây Tiến.

Quang Dũng quê ở Đan Phượng, Hà Tây nay đã sát nhập Hà Nội, ông là một nghệ sĩ đa tài, vừa là nhạc sĩ và vừa là họa sĩ chính vì thế thơ ông rất giàu chất nhạc , chất họa. Quang Dũng cũng còn là một người lính ưu tú, tham gia nhiều chiến trường khác nhau cho nên những vần thơ của ông về người lính rất chân thật và sống động, sức truyền cảm mạnh mẽ, phong cách thơ ông gói gọn trong mấy từ như: Phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa. Binh đoàn Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947, thành phần chủ yếu chính là những thanh niên Hà thành, nhận nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao lực lượng thực dân Pháp. Địa bàn hoạt động đã trải rộng suốt từ vùng Sơn La, Hòa Bình và đến Sầm Nứa (Lào), rồi vòng về vùng phía tây Thanh Hóa, phải hành quân nhiều lần, điều kiện chiến đấu lúc đó vô cùng gian khổ. Tây Tiến đã sáng tác cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, tác giả Quang Dũng hồi tưởng lại về những ngày tháng ở binh đoàn Tây Tiến. Ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, nhưng sau đổi thành Tây Tiến, một nhan đề hàm súc và cô đọng, nhưng vẫn thể hiện rõ ràng cảm xúc chủ đạo của bài thơ là chính nỗi nhớ. Cảm hứng bao trùm bài thơ cảm hứng lãng mạn và thật tinh thần bi tráng.

Nỗi nhớ về một nơi Tây Bắc dữ dội, đã được thể hiện trong 14 câu thơ đầu.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Với hai câu thơ đầu “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/”Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”, đã gợi lên những nỗi nhớ, nỗi thương dâng trào về một thời mà đã qua, về một vùng đất đã xa. Lời gọi “Tây Tiến ơi” rất tha thiết và khắc khoải, Tây Tiến không chỉ còn là một cái tên mà dường như nó cũng đã trở thành người thân thương ruột thịt. Quang Dũng còn gọi tên “sông Mã” ngay từ những câu thơ đầu, địa danh ấy cũng là hiện thân tiêu biểu của một vùng rừng núi Tây Bắc. Trên quãng đường hành quân, dòng sông ấy không chỉ còn là một địa danh trên bản đồ địa lý mà đã trở thành người bạn, người tri kỷ và là chứng nhân lịch sử đã chứng kiến biết bao đau thương, gian khó, vui buồn của người lính chiến trong suốt cuộc đời trường chinh. Thế nên trong nỗi nhớ Quang Dũng, trước hết là nhớ về binh đoàn Tây Tiến thân yêu và sau là về Tây Bắc với dòng sông Mã vương đầy kỷ niệm. Không chỉ có như vậy, trong ấn tượng, đã có trong nỗi nhớ của nhà thơ còn có hình ảnh của rừng núi và đó là nỗi nhớ “chơi vơi” lạ lùng! Bởi với người lính xuất thân từ phố thị, thì là hình ảnh rừng núi Tây Bắc hết sức lạ lẫm, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng chính người lính chiến. Tác giả Quang Dũng hai lần nhắc chữ “nhớ”, nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ đang khắc khoải bên trong lòng tâm hồn, đặc biệt “nhớ chơi vơi” lại là một cách diễn tả nỗi nhớ rất riêng của nhà thơ Quang Dũng. Đó là cảm giác, trơ trọi, hụt hẫng và chông chênh trong một nỗi hoài niệm xa xôi, và bởi Tây Bắc đã xa lắm rồi, một Tây Bắc đầy sương mù, mây vờn quanh núi chơi vơi, hoang vắng, nhưng thật lắm oai hùng.

Nếu như 2 câu thơ đầu đó là nỗi nhớ bao trùm thì ở 12 câu thơ tiếp nỗi nhớ ấy đã được nhà thơ thật sự khắc sâu qua nhiều kỷ niệm ấn tượng. Đầu tiên là nỗi nhớ về Sài Khao, Mường Lát và trong đó “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Hai địa danh đã gợi nhắc về những địa bàn hoạt động của một  đoàn quân Tây Tiến, từ đó đã kéo ra các không gian rộng lớn khác xuyên suốt cả bài thơ như chính Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu,…và  dường như nỗi nhớ của nhà thơ dàn trải dài khắp một chiều không gian, mỗi nơi mà nhà thơ từng bước chân đến và đi qua thì tâm hồn nhà thơ đều cảm thấy yêu thương gắn bó, trích lời của nhà thơ Chế Lan Viên “Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương”. Có thể thấy mỗi một địa danh biểu trưng cho núi rừng Tây Bắc đều đã trở thành một kỷ niệm khắc sâu vào trong tâm khảm của chính nhà thơ không thể phai mờ, đó cũng là tình cảm thắm thiết sâu nặng, và cũng trích lời của Chế Lan Viên “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Hình ảnh “sương lấp đoàn quân mỏi” vốn đã gợi hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trở về Mường Lát trong màn sương mờ ảo của núi rừng Tây Bắc, gợi lên vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên nơi núi rừng, đồng thời là vẻ đẹp đông đảo, và đoàn kết của người lính chiến. Cảm giác “mỏi” hiện diện trong gân cốt người lính chiến, và dường như vẫn còn như mới trong tâm hồn Quang Dũng, điều ấy càng chứng tỏ một nỗi nhớ sâu sắc của tác giả, bởi kỷ niệm đó càng nhỏ bao nhiêu thì nỗi nhớ càng to lớn bấy nhiêu, nhớ kỹ đến cả một cái “mỏi” hành quân xa! “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, hoa ở đây không có thể hiểu là ngàn hoa của núi rừng, hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng có lẽ chính xác hơn, chính thì hoa ấy là ánh sáng của ngọn đuốc bập bùng trong đêm tựa đóa hoa lửa những đêm hành quân mịt mờ trở về Mường Lát. Hình ảnh ngọn đuốc hoa vừa được gợi lên nét lãng mạn, vừa hào hùng của một thời Tây Tiến…

Sau nỗi nhớ về Mường Lát và về Sài Khao chính là kỷ niệm về những ngày hành quân chiến đấu đầy gian khổ, về vùng núi rừng Tây Bắc lắm hiểm trở và nguy nan.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Điệp từ “dốc” gợi lên cảnh của những đỉnh dốc nối tiếp nhau, hết đỉnh dốc này lại tới đỉnh dốc khác, chẳng biết bao giờ mới hết được. Từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” gợi lên sự hiểm trở, quanh co và lắt léo gập ghềnh, thêm vào đó là sự chênh vênh của nơi núi rừng, bên là vách núi bên là vực thẳm, sự hun hút của cung đường. Cả câu thơ đã gợi mở một không gian hành quân vừa cao lại vừa sâu rộng người lính đang phải nỗ lực hết sức mình để vượt qua những chặng đường đầy  những nguy khó. Điệp ngữ “Ngàn thước” với sự kết hợp với nghệ thuật tương phản “lên cao và xuống”, cũng tiếp tục vừa gợi ra độ cao chót vót của đỉnh dốc, và vừa gợi ra độ sâu thăm thẳm của đáy dốc. Lời thơ làm nổi bật được tính chất hùng vĩ, nơi hiểm trở nổi bật của núi rừng Tây Bắc và nỗ lực vượt lên chính trên những khó khăn địa hình hành quân của người lính chiến lúc bấy giờ. Nhưng dẫu thiên nhiên có hùng vĩ, trùng điệp, và khúc khuỷu đến mấy thì cũng trở nên vô nghĩa dưới bước chân của binh đoàn Tây Tiến, những người lính đã hiện lên với tầm vóc là một đối thủ xứng tầm của nơi thiên nhiên. Từ láy “heo hút” thể hiện sự hoang vắng, và lạnh lẽo của núi rừng, nơi dường như chưa từng có bước chân người đến, cũng chính vì người lính hành quân trên những ngọn núi cao chót vót, cho nên những “cồn mây” mới như đang quanh quẩn, như đang đùa giỡn dưới chân, ngỡ rằng người chiến binh đang bước đi trên mây chứ chẳng phải núi rừng.

Hình ảnh “súng ngửi trời” là một trong những hình ảnh nhân hóa thú vị và đầy sáng tạo của tác giả Quang Dũng, vì người lính hành quân qua những đỉnh núi, nơi có thể chạm đến tầng mây, thì những khẩu súng khoác trên vai, mũi súng dường như đang chọc thủng cả  trời xanh kia, nói là “súng ngửi trời” đó chính là cách cảm nhận thật tinh nghịch của những người lính trẻ lãng mạn, và hài hước và hồn nhiên. Câu thơ cuối có âm điệu thật khác so với ba câu thơ ở trên, lời thơ nhẹ nhàng trầm xuống, tưởng tượng những người lính chiến từ trên đỉnh núi cao mà phóng tầm mắt xuống, thấy cảnh vật mơ hồ không sắc nét, nhưng đó là dấu hiệu của một sự sống, “mưa xa khơi” gợi cảm giác khoan khoái mát lạnh của những làn mưa trắng xóa. Đó là nét đẹp lãng mạn của núi rừng Tây Bắc, cũng đồng thời cũng gợi lên trong tâm hồn người lính những cảm giác yên bình, về chốn dừng chân, để tiếp thêm động lực cho những chặng đường sắp tới trước mắt.

Sau những ngày hành quân gian khổ, thì đây là lúc hồi ức của Quang Dũng tiến về sự hi sinh của một người lính Tây Tiến.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”

Cái gọi “anh bạn” thể hiện một thứ tình cảm thân thiết trìu mến, cụm từ “không bước nữa” và “bỏ quên đời” đều là cách nói giảm tránh về cái chết, điều đó là giảm đi sự đau thương mất mát, và đồng thời nhấn mạnh sự hy sinh cao cả của người lính chiến. Tư thế hi sinh “gục lên súng mũ”, thể hiện tinh thần của người lính chiến dẫu có hy sinh đến đâu cũng không hề rời đi trách nhiệm, trang bị gắn bó với những đời lính, đó là một tư thế ngang tàng, gan góc, và quả cảm của người lính. Có thể nói trong hai dòng thơ trên đã  có sự đau đớn xót xa của nhà thơ với người đồng đội đồng thời cũng là những tấm lòng cảm phục với sự hy sinh anh hùng ấy. Lời thơ cũng cho thấy cái nhìn tỉnh táo dũng cảm của Quang Dũng khi viết về chiến tranh, nhưng không hề giấu đi được những nỗi đau mất mát.

Tiếp đến là những nỗi nhớ về một thời gian khổ và lãng mạn, điều ấy được thể hiện rõ ràng trong 4 dòng thơ sau đây:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Cấu trúc thơ tân kỳ độc đáo, và dùng động từ mạnh mẽ trong câu “Chiều chiều oai linh thác đã gầm thét” thể hiện cái dữ dội, hùng vĩ hoang sơ của vùng núi rừng núi Tây Bắc. Bên cạnh đó, không chỉ đã dừng lại ở sự hoang sơ hùng vĩ, mà núi rừng nơi đây còn ẩn chứa biết bao những mối hung hiểm khôn lường, Quang Dũng viết “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”, nơi rừng thiêng nước độc, đã lại còn có sự hiện diện của ác thú. Mãi chìm trong những ký ức những nhà thơ bỗng sực tỉnh “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, Tây Tiến nơi đã xa, Tây Bắc cũng đã xa lắm rồi, chỉ còn lại những kỷ niệm. Nỗi nhớ ở đây được bộc lộ một cách tha thiết, cồn cào, và nhớ cả về những bát cơm, hương khói lửa, nắm xôi ấm tình quân và dân, đồng thời cũng gợi lên một thời kháng chiến vừa vất vả vừa lãng mạn, thật thi vị nên thơ.

Suốt 14 dòng thơ đầu đều đã xoay xung quanh nỗi nhớ khôn nguôi về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, về vẻ đẹp vượt lên trên khó khăn gian khổ của những người lính, sự hy sinh cao cả, nét lãng mạn trong khi tâm hồn người lính trẻ giữa những gian khổ chất chồng đó. Bằng ngòi bút hào hoa và lãng mạn Quang Dũng cũng đã diễn tả một cách chân thực nhất những nỗi nhớ nơi khắc khoải trong tâm hồn của người lính chiến về cả một thời kháng chiến đã đi qua với những giọng điệu phóng khoáng, hình ảnh thơ giàu sức gợi, nhịp thơ đã biến đổi, tất cả đã tạo nên một âm hưởng thật riêng, một phong cách riêng của những người lính Tây Tiến.