Phân tích bài thơ Tây Tiến khổ 1, 2, 3, 4 | Dàn ý, sơ đồ tư duy

0

Bài thơ “Tây Tiến” là bản hùng tráng ca đầy hào hùng về người lính Tây Tiến. Các bạn cùng Butbi tham khảo bài Phân tích bài thơ Tây Tiến trong bài viết dưới đây để có những cảm nhận trọn vẹn, những cái nhìn rõ nét nhất về vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên cùng vẻ đẹp kiêu hùng, bất khuất với tình yêu nước và lòng quyết tâm đấu tranh bảo vệ hòa bình, tự do của những người lính Tây Tiến.

Phân tích bài thơ Tây Tiến khổ 1, 2, 3, 4 | Dàn ý, sơ đồ tư duy
Phân tích bài thơ Tây Tiến khổ 1, 2, 3, 4 | Dàn ý, sơ đồ tư duy chi tiết

Tham khảo thêm:

A. Dàn ý Tây Tiến chi tiết

1. Mở bài:

Giới thiệu sơ lược về bài thơ Tây Tiến cùng nhà thơ Quang Dũng để dẫn dắt vào phần thân bài.

Quang Dũng sinh năm 1921 – mất năm 1988, ông là một nhà thơ đa tài nổi tiếng với phong cách sáng tác nghệ thuật vừa hồn nhiên vừa tinh tế, lại mang vẻ lãng mạn và hào hoa.

Tây Tiến là bài thơ mang đậm phong cách thơ của Quang Dũng, mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chút chất lãng mạn.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Khái quát chung về bài thơ Tây Tiến

  • Tây Tiến: là tên của một binh đoàn được thành lập vào năm 1947, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt – Lào cùng với bộ đội Lào để làm hao mòn lực lượng của giặc Pháp.
  •  Xuất thân của những người lính Tây Tiến: phần đông có xuất thân ở Hà Nội, trong đó có nhiều người là học sinh, sinh viên.
  •  Hoàn cảnh ra đời: Năm 1947, Quang Dũng tham gia vào đoàn quân Tây Tiến, với chức vụ đại đội trưởng. Vào cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển tới hoạt động ở một đơn vị mới, nhớ đơn vị cũ, ông đã viết lên bài thơ này tại Phù Lưu Chanh (Hà Tây).
  •  Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến và đây cũng chính là vẻ đẹp của những người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thể hiện nỗi nhớ da diết cùng tình cảm sâu nặng của nhà thơ với đơn vị Tây Tiến, với cảnh vật và con người nơi vùng núi Tây Bắc một thời gắn bó.

Luận điểm 2: Nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về núi rừng Tây Bắc hùng vĩ và người lính Tây Tiến anh hùng

– Câu thơ đầu tiên “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”: Sông Mã là tên một con sông quen thuộc của vùng núi rừng Tây Bắc. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã nhắc đến con sông này cho thấy rằng nỗi nhớ của tác giả dường như đã trải dài khắp cả con sông. Đi cùng với nó là cụm từ “Tây Tiến” – chỉ một đoàn quân kết hợp với từ “ơi” vang lên thật trìu mến.

– Câu thơ “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”:  đây chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, diễn tả nỗi nhớ nhung da diết đến trống vắng, hụt hẫng.

– Các địa danh  nổi tiếng như “Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông”: gợi nhớ lại về những cuộc hành quân gian khổ, nhưng để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi và heo hút.

– Câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”: Vẽ lên hình ảnh những con dốc cứ dựng đứng giữa trời đầy hiểm nguy nhưng rồi họ vẫn phải cố gắng vượt qua.

– Câu “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”: Mũi súng trên vai của người lính có vẻ đơn thuần nhưng được tác giả nhân hóa thành hình ảnh “súng ngửi trời” vừa diễn tả được độ cao ngút, vẻ hoang sơ, lạ lẫm lại vừa hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn của người lính.

– Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến hành quân trong mưa trong câu “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” mang vẻ dữ dội nhưng lại rất nên thơ.

– Hai câu “Chiều chiều oai linh thác gầm thét” và “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”: hình ảnh thác nước dữ dội kết hợp với tiếng hú man dại, ghê gớm của thú rừng tạo lên âm hưởng của đại ngàn.

– Hai câu thơ tiếp “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói” và “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”: Nói về những ngày người lính Tây Tiến dừng chân bên xóm làng sau những đêm hành quân gian khổ, mùi thơm hương nếp mới và tình quân dân ấm áp đã xua tan đi bao gian khổ nhọc nhằn.

Luận điểm 3: Tình quân dân gắn bó, cùng vẻ đẹp Tây Bắc trong đêm liên hoan văn nghệ.

* Tình quân dân gắn bó trong vui liên hoan văn nghệ:

– Ngọn đuốc thắp sáng trong đêm liên hoan văn nghệ truyền thống đã trở thành “hội đuốc hoa” khiến khung cảnh nơi đây tuy thiếu thốn nhưng lại rực rỡ lung linh bao ước mơ, niềm hạnh phúc.

– Hai chữ “kìa em” được thốt lên thể hiện sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của những người lính. Những cô gái Tây Bắc xinh đẹp trong bộ xiêm áo đang e ấp trong điệu múa truyền thống.

– “Tiếng khèn” mang linh hồn của núi rừng lại càng trở nên lôi cuốn hơn khiến cho tâm hồn các chiến sĩ mộng mơ, lãng mạn.

* Vẻ đẹp Tây Bắc trong bức tranh sông nước hư ảo:

– Thiên nhiên vùng Tây Bắc đầy thơ mộng: Vẻ đẹp sông nước mênh mông hoang dại, huyền ảo, thiêng liêng.

– Hình ảnh “Hoa đong đưa” vừa tả ảnh vừa tả thực: Những bông hoa nhẹ nhàng khẽ lay động đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ; đây là một hình ảnh ẩn dụ, gợi tả vẻ đẹp duyên dáng của các cô gái Tây Bắc.

⇒ Với bút pháp lãng mạn của mình, Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Tây Bắc đầy thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh xinh đẹp của con người Tây Bắc.

Luận điểm 4: Hình ảnh, chân dung của người lình Tây Tiến vừa hào hùng vừa lãng mạn.

  • Chân dung người lính Tây Tiến được miêu tả một cách chân thực: hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, nói lên điều kiện sống và chiến đấu thiếu thốn  đầy khắc nghiệt, gian khổ nhưng họ vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.
  •  Tuy trong hoàn cảnh khốn khó là vậy nhưng họ vẫn là những con người có tâm hồn lãng mạn và một trái tim yêu thương được thể hiện trong câu “Mắt trừng gửi mộng” và “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi hậu phương quê nhà làm động lực chiến đấu.
  • Vẻ đẹp bi tráng được thể hiện qua sự hi sinh đầy anh dũng của họ:
    • Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ, hi sinh mạng sống của mình cho đất nước: “rải rác biên cương mồ viễn xứ” mà “chẳng tiếc đời xanh”. Hình ảnh “anh về đất”, thể hiện sự ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.
    • Cái chết đã được tác giả lí tưởng hóa như hình ảnh của những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; sự hi sinh ấy khiến thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.
  •  Dù trong hoàn cảnh khó khăn vất vả như vậy nhưng những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa, yêu đời. Họ mang một vẻ đẹp kiêu hùng, anh dũng sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.

Luận điểm 5. Khái quát lại hình ảnh Tây Tiến và lời thề gắn bó.

Trong câu “Tây Tiến người đi không hẹn trước” và “ Đường lên thăm thẳm một chia phôi”: nói lên sự ra đi mà không có lời hẹn trước khi nào trở lại, tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu cho tổ quốc.

Hai câu  “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” và “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”: Gợi nhắc lại về những kỉ niệm không thể nào phai mở của đoàn quân Tây Tiến.

3. Kết bài

Khái quát lại toàn bộ nội dung và đưa ra giá trị nghệ thuật của bài thơ, sau đó nêu lên cảm nghĩ của bản thân về tác phẩm.

B. Sơ đồ tư bài Tây tiến

Dưới đây là sơ đồ tư duy tây tiến cả bài để các bạn tham khảo:

Sơ đồ tư bài Tây tiến
Sơ đồ tư bài Tây tiến

C. Bài văn mẫu phân tích Tây tiến

Quang Dũng  sinh năm 1921 mất năm 1988 – tên thật là Bùi Đình Diệm, ông được sinh ra ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông là một người nghệ sĩ đa tài vừa viết văn, vừa làm thơ lại còn biết cả vẽ tranh, soạn nhạc. Thế nhưng nhắc đến Quang Dũng, trước hết người ta sẽ nhớ đến một nhà thơ tài hoa, với giọng thơ vừa hồn nhiên, vừa tinh tế lại không kém phần lãng mạn hào hoa, đặc biệt là khi ông viết về người lính trong đơn vị cũ của mình của mình – Tây Tiến. 

“Tây Tiến” là tên của một đơn vị quân đội được thành lập vào năm 1947, nó có nhiệm vụ chính là phối hợp cùng với bộ đội Lào để chống lại thực dân Pháp. Hầu hết những người lính trong binh đoàn Tây Tiến là  học sinh sinh viên Hà Nội, trong đó có nhà thơ Quang Dũng và ông được đảm nhận chức vụ đội trưởng. Năm 1948, ông chuyển công tác về Phù Lưu Chanh, do quá nhớ về binh đoàn cũ nên ông đã sáng tác ra bài thơ “Tây Tiến”. Tác phẩm này đã tái hiện lại hình ảnh người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng không thiếu vẻ lãng mạn, hào hoa, cùng với đó là hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ dữ dội và cũng rất thơ mộng

Mở đầu bài thơ Quang Dũng đã tái hiện lại khung cảnh thiên nhiên vùng núi Tây hùng vĩ, hoang sơ mà mĩ lệ, cùng với đó là cuộc hành quân đầy gian khổ của binh đoàn Tây Tiến. Những người lính trẻ ấy lại chẳng ngại hiểm nguy, họ cứ thế tiến về phía trước với một tinh thần yêu đời, hồn nhiên, lạc quan của tuổi trẻ

Phân tích khổ 1 Tây Tiến

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! 
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi 
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi 
Mường Lát hoa về trong đêm hơi 
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời 
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống 
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi 
Anh bạn dãi dầu không bước nữa 
Gục lên súng mũ bỏ quên đời! 
Chiều chiều oai linh thác gầm thét 
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói 
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ”

“Nỗi nhớ da diết” là cảm xúc chủ đạo xuyên suốt tác phẩm của nhà thơ khi nghĩ về những kỷ niệm xưa cùng với đồng đội tại đơn vị cũ của mình. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” câu thơ được cất lên như tiếng lòng của nhà thơ, kết hợp với từ “ơi” làm cho tiếng gọi lại càng tha thiết hơn mang đầy sự tiếc nuối và chứa đựng đầy những hoài niệm trong quá khứ huy hoàng. Quang Dũng nhớ Tây Tiến bằng một nỗi nhớ “chơi vơi”  mang vẻ mênh mông và sâu nặng. Nỗi nhớ ấy luôn thường trực, hiện hữu bao trùm lên cả không gian và trái tim những người lính.

Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện lên thật sống động với những địa danh quen thuộc như “sông Mã”, “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Mường Hịch”, “Pha Luông”,  “ Mai Châu” đây đều là những địa danh đã gắn bó với binh đoàn, là những địa bàn hành quân của người lính Tây Tiến. Một vùng đất xa xôi, hiểm trở, đầy hiểm nguy tưởng chừng như làm lu mờ đi ý chí chiến đấu của những người lính cụ Hồ. “Sương lấp đoàn quân mỏi” với địa hình núi cao chập chùng cùng với những lớp sương mù dày đặc phủ kín lối đi, đoàn quân đã đang mệt mỏi giờ đây lại phải đối diện thêm với cái lạnh cắt da của vùng núi Tây Bắc. Địa hình núi non hiểm trở được thể hiện qua hình ảnh “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” cho ta thấy đoạn đường đi cũng chẳng bằng phẳng dễ dàng chút nào, có đoạn thì lên cao gập ghềnh khúc khuỷu, có đoạn lại “thăm thẳm” như vực sâu mà chỉ cần một phút lơ đãng thồi là người lính có thể bỏ mạng ngay tức khắc. Sương dày che khuất tầm nhìn, đường đi nhỏ quanh co cộng với sự trơn trượt của mặt đất, vậy mà đoàn quân vẫn đi, vẫn tiến về phái trước mặc kệ cái gian khổ. Quang Dũng đã khéo léo khi vận dụng nghệ thuật đối lập để miêu tả sự dữ dội của núi rừng Tây Bắc qua câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” câu thơ đầy nhịp điệu, thật sinh động và đầy sáng tạo đã gợi ra trước mắt người đọc một khung cảnh cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ, bí hiểm với đầy rẫy những hiểm nguy giăng lối “oai linh thác gầm thét”,  hay đêm đêm “cọp trêu người”.

Đây quả thực là một nơi “rừng thiêng nước độc” thế nhưng những khó khăn ấy cũng chẳng thể nào có thể làm hụt đi ý chí, cản bước chân người lính Tây Tiến, họ vẫn đi, đi với sự anh dũng kiên cường và trong đôi mắt của họ thì miền Tây Bắc nơi đây lại là một vùng đất đầy thơ mộng trữ tình và chứa chan tình người. Những hình ảnh như “hoa về trong đêm hơi”, “mưa xa khơi” thật nhẹ nhàng huyền ảo tạo xúc cảm thư thái cho người đọc. Người dân miền Tây Bắc hiện lên với vẻ thật giản dị, gần gũi đầy nghĩa tình, họ gắn bó với cách mạng, luôn yêu thương che chở cho những người lính Tây Tiến.

Quang Dũng đã miêu tả thiên nhiên núi rừng mênh mông rộng lớn, hiểm trở đầy những hiểm nguy như thế chính là để làm nổi bật lên hình tượng của người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ và sự hy sinh anh dũng của họ. Đoàn quân đã đi ròng rã nhiều ngày liền nên họ thật sự đã thấm mệt, đã kiệt sức và lúc này đây “đoàn quân mỏi” , họ cần được nghỉ ngơi để lấy lại sức lực, tinh thần để bước tiếp. Hình ảnh “anh bạn dãi dầu không bước nữa” đây là cách nói giảm, nói tránh của nhà thơ, khi nói về những người lính đã hy sinh nơi chiến trường khốc liệt chẳng thể nào bước tiếp cùng với đồng đội. Tác giả đã dùng cách nói này để tránh gây nỗi đau quá sâu sắc, làm giảm đi ý chí chiến đấu của những người còn lại trong đoàn quân. Những người lính ấy thật đáng khâm phục khi họ sẵn sàng dám hy sinh quên mình cho Tổ quốc, họ trẻ trung ngang tàn bất khuất và rất yêu đời  với hình ảnh “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết nhẹ nhàng tựa lông hồng chẳng thể làm những người lính ấy run sợ, mà ngược lại tâm hồn họ vẫn bay bổng tinh nghịch, yêu đời xen lẫn sự lãng mạn tài hoa.

Những khổ thơ tiếp theo tác giả đã gợi lại những kỷ niệm đẹp, sâu nặng của tình quân dân gắn bó trong những đêm liên hoan tưng bừng náo nhiệt:

Phân tích khổ 2 Tây Tiến

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 
Kìa em xiêm áo tự bao giờ 
Khèn lên man điệu nàng e ấp 
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ 

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 
Có nhớ dáng người trên độc mộc 
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” 

Binh đoàn Tây Tiến đã gắn bó với chiến trường suốt nhiều năm trời nên có biết bao nhiêu kỷ niệm hằn sâu trong tâm hồn mỗi người. Sau những ngày đêm chiến đấu vất vả, gian lao thì  “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” những chàng trai cô gái ấy lại nắm tay nhau nhảy trong điệu nhạc “e ấp” của dân tộc thiểu số vùng cao. Vẻ đẹp của người con gái trong những bộ xiêm áo cùng với vẻ lung linh, bí ẩn có chút hoang dại nơi đây làm say đắm tâm hồn của biết bao chàng lính trẻ hào hoa, lãng tử nơi Hà thành. Cùng với đó là cảnh sông nước miền Tây Bắc trong một buổi chiều sương thật lãng mạn nhưng lại phảng phất nét buồn, như nỗi khắc khoải đâu đây sự lo lắng của nhà thơ trước vận mệnh của dân tộc, trước tình hình chiến sự đầy cam go quyết liệt.

Đoàn binh lại tiếp tục những cuộc hành quân chiến đấu, những người lính được tác giả khắc họa như những tượng đài bất khuất hiên ngang vĩ đại, chân dung của họ hiện lên với vẻ đẹp vừa bi tráng lại rất tài hoa, lãng mạn pha với chút nhí nhảnh:

Phân tích khổ 3 Tây Tiến

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc 
Quân xanh màu lá dữ oai hùm 
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ 
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 
Áo bào thay chiếu, anh về đất 
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Chất bi tráng lẫm liệt ấy được thể hiện với khí thế ngút trời trong câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” . Đây là một hình ảnh của sự khốc liệt, dữ dội và cũng hết sức mạnh mẽ của người lính, dù ở trong rừng sâu phải đối diện với căn bệnh sốt rét kinh người, khiến da học xanh nhợt đi vì bệnh tật nhưng chưa bao giờ họ thôi quyết tâm, kiên cường chiến đấu. Những người lính ấy khoác trên mình bộ quân phục màu xanh lá mang theo biết bao ước mơ, niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng và một đất nước không còn bóng quân thù. Hai cụm từ “Mắt trừng”, “dữ oai hùm” thể hiện lên khí thế ngang tàn, mạnh mẽ khiến cho kẻ thù nhìn cũng phải khiếp sợ. Thế nhưng đau xót thay, bên cạnh đó thì vẫn có những người lính Tây Tiến phải bỏ mạng nơi chiến trường khốc liệt này “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, những nấm mồ lạnh lẽo vô danh nơi biên giới họ đã nằm xuống khi tuổi đời còn quá trẻ, bỏ lại cả tương lai, thanh xuân, bỏ lại cả mẹ già đang trông ngóng nơi quê nhà yêu dấu. Người lính thật đáng trân trọng, họ đã sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc mà chẳng một phút nao núng sợ hãi cũng “chẳng tiếc đời xanh”. Sự ra đi anh dũng của họ khiến cho trời đất cũng phải tiếc thương đưa tiễn, dòng sông Mã lại một lần nữa xuất hiện ở cuối bài như tấm lòng trân trọng của nhà thơ muốn gửi gắm tiễn đưa những người lính đã hy sinh ở những phút giây cuối đời, những người lính vô danh ấy đã vĩnh viễn nằm lại nơi xa xứ , nơi chiến trường khốc liệt.

Chân dung người lính Tây Tiến còn được tác giả miêu tả qua một ánh nhìn khác với vẻ hào hoa, lãng tử. Họ đều là những chàng trai nơi thành thị nhưng vì nghiệp lớn mà họ sẵn sàng rời bỏ nơi nơi phồn hoa đô thị. Những chàng trai ấy đang còn trong độ tuổi trẻ rạo rực với những mộng tưởng, với những khát khao yêu đương “gửi mộng qua biên giới”, dù nơi chiến trường khốc liệt họ vẫn mơ về những cô gái Hà Nội nơi hậu phương vừa xinh đẹp vừa dịu dàng như nàng Kiều. Tất cả đã tạo nên một hình ảnh người lính trẻ trung, yêu đời, hào hoa với những khát khao có được hạnh phúc mãnh liệt của tuổi trẻ.

Đoạn thơ cuối vang lên một cách mạnh mẽ, quyết liệt như lời khẳng định quyết tâm của đoàn binh, đó cũng chính là lời thề chung thành với tổ quốc, không quản ngại hy sinh vì độc lập dân tộc:

Phân tích khổ 4 Tây Tiến

“Tây Tiến người đi không hẹn ước 
Đường lên thăm thẳm một chia phôi 
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy 
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Người lính Tây Tiến kiên cường, bất khuất tự tin thể hiện một tinh thần chiến đấu anh dũng đầy nhiệt huyết “người đi không hẹn ước”, họ ra đi mà chẳng hẹn ngày trở lại, đi với tâm thế sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ cho tổ quốc, cho độc lập dân tộc. Dù biết chặng đường ấy có “thăm thẳm” chia phôi thế nhưng họ đã thề với  đất nước một lời thề sắc son rằng “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Tâm hồn của những người lính trẻ này dường như đã vượt qua những mơ ước, hoài bão cá nhân tầm thường, để giờ đây họ mang trên vai mình một trọng trách sứ mệnh vô cùng to lớn đó là: Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, cho độc lập dân tộc.

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc nhất đã góp phần làm lên tên tuổi của Quang Dũng, nó cũng đưa nhà thơ lên một tầm cao mới trong nghệ thuật. Với ngòi bút tài hoa, lãng mạn của mình nhà thơ đã xây dựng thành công hình tượng người lính cụ Hồ vừa bi tráng vừa tài hoa lại rất hào hùng, hai chất thơ ấy dường như không thể tách rời mà chúng còn hoà quyện vào nhau tạo lên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Hình tượng thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng được xây dựng tinh tế, sinh động làm nền góp phần tô đậm hơn vẻ đẹp của người lính Tây Tiến lạc quan, yêu đời.

Trên đây là toàn bộ bài phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng chi tiết và hay nhất được chọn lọc kỹ càng. Hi vọng với bài viết này, các bạn có thể cảm nhận thành công những điều mà nhà thơ Quang Dũng gửi gắm vào tác phẩm.