Soạn bài nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học | Ngữ văn 12

0

Soạn văn bài: Nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học – Trang 84 SGK-ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong sgk đều được trả lời rõ ràng, rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn dưới đây, các bạn học sinh có thể sẽ nắm tốt nội dung bài học.

Soạn bài nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học | Ngữ văn 12
Soạn bài nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học | Ngữ văn 12

Tham khảo thêm: 

A. Tìm hiểu đề và cách lập dàn ý

Giải đề 1 – trang 92 – sgk – ngữ văn 12 – tập 1

1. Tìm hiểu đề: 

– Giải thích một số các cụm từ :

  • phong phú, đa dạng nghĩa là có nhiều thể loại, với nhiều nội dung khác nhau
  • chủ lưu: là dòng chảy chính
  • quán thông kim cổ: thông suốt từ ngày xưa đến nay.

– Giải thích nhận định: Văn học yêu nước là dòng chảy chính trong sự đa dạng, phong phú của nền văn học Việt Nam.

2. Lập dàn ý:

*Mở bài: Giới thiệu về ý kiến của Đặng Thai Mai.

*Thân bài:

– Văn học Việt Nam rất phong phú và đa dạng: bao gồm nhiều dòng chảy khác nhau như yêu nước, nhân đạo, thế sự,…

– Văn học yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử của nền văn học Việt Nam:

  • Văn học yêu nước là dòng chảy chính trong nền văn học trung đại (chứng minh qua bốn giai đoạn của văn học trung đại).
  • Văn học yêu nước là dòng chảy chính trong nền văn học hiện đại (chứng minh qua văn học thời kỳ chống Pháp, thời kỳ chống Mỹ…).

– Giải thích nguyên nhân khiến văn học yêu nước là dòng chủ lưu thông suốt kim cổ:

  • Nước ta là đất nước có lịch sử trường kỳ chống giặc ngoại xâm.
  • Yêu nước là một truyền thống quý báu, là tình cảm lớn lao nhất trong tinh thần người Việt.
  • Văn học vừa phản ánh được tình yêu đất nước, lịch sử hào hùng của dân tộc vừa là một phương tiện góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước.

*Kết bài: Khẳng định lại tính đúng đắn trong nhận định của Đặng Thai Mai.

Giải đề 2 – trang 92 – sgk – ngữ văn 12 – tập 1:

1. Tìm hiểu đề:

– Giải thích ý kiến: càng nhiều tuổi, người ta càng có những cách thức và những khả năng lĩnh hội hiệu quả hơn các giá trị khi đọc sách.

– Bàn luận về ý kiến:

  • Ý đúng: càng nhiều tuổi, càng có nhiều sự trải nghiệm về cuộc sống và có nhiều  kinh nghiệm giúp cho việc đọc sách trở nên dễ dàng nhận thức và lĩnh hội hơn.
  • Ý bổ sung: cách đọc và kết quả đọc sách ngoài việc phụ thuộc vào tuổi tác mà còn phụ thuộc vào sự yêu thích dành cho sách, năng lực, trình độ, điều kiện của mỗi cá nhân người đọc.

2. Lập dàn ý

*Mở bài: Nêu và dẫn dắt vào vấn đề đọc sách và trích dẫn ý kiến của Lâm Ngữ Đường.

*Thân bài:

– Giải thích ý kiến trong đề bài: sự khác nhau trong cách đọc và kết quả đọc sách ở mỗi lứa tuổi.

– Đánh giá và chứng minh những khía cạnh đúng đắn trong ý kiến của Lâm Ngữ Đường.

– Bổ sung các ý kiến để có một quan điểm toàn diện, đầy đủ về việc đọc sách.

– Bản thân khi đọc sách rút ra được bài học gì..

*Kết bài: Nêu những bài học chung về việc đọc sách, đặc biệt với tác phẩm văn học.

B. Đối tượng và nội dung của bài nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học

– Đối tượng: rất đa dạng (về văn học sử, về lý luận văn học, về tác phẩm văn học…).

– Nội dung bao gồm: giải thích, nêu ý nghĩa, tác dụng của ý kiến đó đối với văn học và đời sống.

Trả lời câu 1 – trang 93 – sgk – ngữ văn 12 – tập 1:

Lập dàn ý:

Mở bài:

– Giới thiệu sơ qua về nhà văn Thạch Lam.

– Trích dẫn nguyên văn ý kiến của Thạch Lam về chức năng của văn học.

Thân bài:

– Giải thích về ý nghĩa của câu nói: Thạch Lam đã nêu lên chức năng to lớn và cao cả của văn học.

– Bình luận và chứng minh ý kiến: Đó là một quan điểm rất đúng đắn về giá trị của văn học: 

Kết bài:

– Khẳng định sự đúng đắn và tiến bộ trong quan điểm sáng tác của tác giả Thạch Lam.

– Nêu những tác dụng về ý kiến trên đối với người đọc:

  • Hiểu và nhận định đúng giá trị của tác phẩm văn học.
  • Biết trân trọng, yêu quý và giữ gìn những tác phẩm văn học tiến bộ của từng thời kỳ. 

*Bài nghị luận mẫu (câu 1 trang 93 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Có lẽ nhà văn Thạch Lam đã suy nghĩ đúng khi ông khẳng định rằng“…Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”. Thoái li ở đây là một cách xa rời với cuộc sống, làm tươi mát cho cuộc sống để con người có thể hiểu hơn về cuộc sống mình đang sống và từ đó cố gắng làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn và tốt hơn. Đối với con người chúng ta thì có rất nhiều cách yêu cuộc sống, ở người này yêu bằng cách này, ở người kia lại yêu bằng cách khác.

Thạch Lam không muốn người đọc tìm thấy sự chán chường và muốn xa rời hiện thực, quên cuộc sống trong tác phẩm văn chương của ông. Và không dẫm vào con đường của các nhà văn lãng mạn (dù Thạch Lam cũng là một nhà văn lãng mạn, hơn nữa lại ông là một trong những người chủ chốt của nhóm Tự Lực Văn Đoàn) theo con đường để tìm đến cõi quên, mà nhà văn Thạch Lam lại muốn hướng dòng văn của mình chảy về hướng ngược lại, hướng trở về cuộc đời thực tại. Quan niệm của ông là như thế và chính trong các tác phẩm của ông cũng chứng tỏ rất rõ điều đó trong các tác phẩm của mình, những tác phẩm hết sức gần gũi với hiện thực chiếm hầu như đa số. Văn chương Thạch Lam không nói những gì quá cao xa mà đều là những mảnh đời thường dung dị và rất đỗi thân quen.

Nhưng nếu trong văn chương không “đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên” thì văn chương phải là như thế nào ? Đó cũng chính là vấn đề trọng tâm mà nhà văn Thạch Lam nêu lên. “ Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Quan niệm này được cho là rất đúng, bởi văn chương cần thế và phải thế. Đó chính là sức mạnh của văn chương nếu một nhà văn nào biết tận dụng triệt để. “Thứ khí giới thanh cao và đắc lực” ở đây không phải để nói đến các súng ống, gậy gộc mà chúng ta thường gọi đó là vũ khí, mà đó chính xác hơn là sức mạnh của ngòi bút nhà văn, sức sống mãnh liệt của văn chương. Từ ngàn xưa, văn chương luôn tiềm ẩn một sức mạnh to lớn mà nếu ai biết “điểm trúng huyệt”. Cũng có thể làm lung lay những thành trì vững chãi nhất. Nhưng ở đây, những “khí giới thanh cao và đắc lực”,được hiểu văn chương chính là một thứ vũ khí cao thượng và hết sức trong sạch, không phải là thứ vũ khí tầm thường có thể sử dụng vào bất cứ mục đích nào, dù mục đích ấy có sâu xa đến đâu cũng sẽ mang lại kết quả. Không, không thể thế.  Ê-luya đã từng nói rằng “Nhà văn là người có ích nhất trong cộng đồng của mình”. Do đó không thể đem văn chương ra để làm một thứ vũ khí phi nghệ thuật. Nhà văn thì phải dùng văn chương “thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “tố cáo và thay đổi một thế giới đầy rẫy sự dối trá và tàn ác”. Đó chính là những mục đích chân chính của văn chương. Văn chương đem đến cho con người lòng yêu cuộc sống, gần gũi với cuộc sống hơn. Nhưng bên cạnh đó văn chương cũng có nhiệm vụ tố cáo, cải tạo cuộc sống, xóa bỏ xã hội cũ để loại bỏ những cái xấu xa, tàn ác mà trở về với cái tốt đẹp. Văn chương không đem đến cho người đọc sự thoát ly, sự quên lãng, nghĩa là văn chương khuyên con người hãy trở về với thực tại. Văn chương cũng phải biết dùng sức mạnh của thứ vũ khí thanh cao của mình để giúp con người được sống trong một xã hội tốt đẹp nhất. Hai nhiệm vụ ấy tưởng như không có quan hệ với nhau mà thực ra lại liên quan rất chặt chẽ. Đã thực hiện được nghĩa vụ này thì nghĩa vụ kia văn chương cũng không thể từ bỏ. Có rất nhiều tác phẩm của các nhà văn đã thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ “lên án, tố cáo và thay đổi cái thế giới gian dối và tàn ác” ấy. Trong Những người khốn khổ. Victo Huygô cũng không ngần ngại khi đã sử dụng hết sức mạnh “như bom đạn” của ngòi bút để tố cáo thật quyết liệt cái xã hội Pháp toàn sự “giả dối và tàn ác”, cái xã hội mà đã đày đọa những con người tốt đẹp như Giăng Van – giăng, Côdét vào những sự đau khổ, sự khốn cùng. Lép Tônxtôi, qua Anna Karenina, cũng đã lên án mạnh mẽ xã hội Nga Hoàng đã cướp đoạt hạnh phúc của những người phụ nữ và đẩy những người phụ nữ đáng thương, khát khao hạnh phúc như Anna vào cái chết mà không thể cứu vãn được.

Qua những vũ khí “thanh cao và đắc lực” của mình, văn chương không chỉ tố cáo xã hội, mà qua sự tố cáo đó, văn chương còn hướng tới mục đích cao cả hơn hết là “thay đổi” cái xã hội ấy : nghĩa là văn chương không phải tố cáo với chủ ý để dìm sâu “cái thế giới giả dối và tàn ác” xuống vũng bùn đen, mà phải tìm cách để nâng cái thế giới ấy lên, gạn lại những bản chất của nó để từ đó phát triển cái thế giới ấy lên. Sự thay đổi ấy, dù văn chương không thể tự đảm nhiệm được, nhưng văn chương cũng đóng góp không nhỏ vào quá trình thay đổi những nét giả dối và sự tàn ác của cái xã hội tàn bạo đầy những thế lực đen tối. Ta có thể thấy một điều rất rõ rằng các tác phẩm của hầu hết các nhà văn, trong đó có cả Thạch Lam, ngoài những mục đích để tố cáo xã hội ra thì nhà văn còn hướng người đọc đến niềm tin vào một “cái thế giới giả dối và tàn ác” trong tương lai sẽ được thay đổi, do lực lượng này hoặc lực lượng khác, và sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng tất cả những điều này, ta sẽ không thể tìm thấy được ở các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn tiêu biểu như Khải Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, bởi vì những quan niệm về văn chương của những nhà tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn ấy khác với quan niệm của nhà văn Thạch Lam, một nhà văn đã khá gần với các nhà văn hiện thực đương thời.

Văn chương không chỉ dùng vũ khí của mình để thay đổi lên án và tố cáo xã hội, mà văn chương còn phải “làm cho lòng người đọc được thêm sự trong sạch và phong phú hớn”. Quan niệm này được cho là hoàn toàn đúng đắn. Đây chính là một trong những thứ cao cả nhất mà văn chương chân chính muốn vươn tới và cũng chính là một trong các chức năng chính của văn học: chức năng giáo dục .Bản thân con người luôn luôn mong muốn vươn tới sự toàn vẹn của chân, thiện, mỹ. Quá trình vươn lên này của con người có nhiều yếu tố khác cùng giúp sức, trong đó có một yếu tố khá quan trọng là văn chương, văn chương làm “lòng người được thêm trong sạch và phong phú”, có nghĩa là văn chương đã phần nào giúp cho những tình cảm trong tâm hồn con người trở nên trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn, cao thượng hơn và dồi dào hơn. Đối tượng phục vụ chính của văn chương chính là con người, do đó những tác phẩm có giá trị nhất chính là những tác phẩm phục vụ đắc lực cho con người.

Lênin nói quả không sai: “Không có tình cảm thì sẽ không bao giờ và không thể có sự tìm tòi của con người và chân lý”. Chính văn chương đã làm cho tình cảm của con người phong phú hơn. Văn chương cũng giáo dục con người phải biết tìm những cái tốt đẹp những phẩm chất trong sáng, từ đó giúp con người tự nhận thức được chính bản thân và cố gắng hoàn thiện mình hơn.

Từ xưa đến nay, văn chương luôn luôn tìm cách giáo dục con người. Ngô Thì Nhậm đã từng nói đại ý: văn phải ngăn ngừa những điều xấu, khuyến khích những điều hay, đó mới chính là giá trị xác đích thực của văn chương. Nhà văn Nam Cao cũng đã từng nói ý này : Một tác phẩm được đánh giá hay phải là một tác phẩm mang tính công bình, lòng bác ái giúp cho quan hệ giữa người gần người hơn. Đó là một trong những quan niệm rất đúng đắn. Nó càng góp phần khẳng định tính chất xác đáng trong quan niệm của Thạch Lam.

Những nội dung mà các tác phẩm văn chương chân chính đều giúp cho con người có ý thức nhìn nhận lại chính mình, phát hiện được những mặt tốt, từ đó cố gắng sửa chữa những mặt xấu, phát huy những mặt tốt để làm cho mình trở thành con người toàn diện hơn. Trong truyện “Sợi tóc”, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả một cuộc đấu tranh nội tâm rất gay gắt của nhân vật chính khi đứng trước ranh giới vùng sáng của sự lương thiện và bóng tối tội lỗi của sự ăn cắp. Cuối cùng, nhân vật đã chiến thắng những bản chất xấu xa, thấp hèn của mình để bước hẳn ra vùng sáng lương thiện. Rõ ràng người đọc sẽ tự suy ngẫm còn những người có suy nghĩ lừa gạt, lừa dối sẽ thấy lĩnh ngộ trong lương tâm, từ đó sẽ hướng tới những điều trong sáng hơn trong cuộc sống.

Hoặc trong những tác phẩm đầy chất thơ của nhà văn Thạch Lam Gió đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan. Đứa con đầu lòng, người đọc sẽ cảm nhận ở nơi đó có nhiều tình cảm mới lạ, êm đềm tựa như những cánh bướm non . Tâm hồn của mọi người từ đó sẽ trở nên dạt dào,tràn trề cảm xúc. Họ càng thấy yêu hơn cái cặp trai gái trong truyện, mến hơn đôi vợ chồng trẻ và những đứa trẻ. Từ những tình cảm ấy, họ sẽ cảm thấy gần gũi, cảm thông nhau cho nhau hơn.

Tóm lại, trong hầu hết các tác phẩm của các nhà văn chân chính, trong đó có cả các nhà văn lãng mạn. Vì vậy, tất cả các tác phẩm của ông đều nhằm vào mục đích ấy. Ông luôn đi theo con đường riêng của chính mình. Thạch Lam có thể tự hào về bản thân vì ông đã để lại một số lượng tác phẩm có giá trị, vừa dạt dào những tình cảm tha thiết vừa mang tính hiện thực rất sâu sắc. Với quan niệm ấy, ông không hẳn được coi là một nhà văn lãng mạn nhưng cũng không phải là một nhà văn hiện thực phê phán. Hầu hết các nhà văn lãng mạn không có những tác phẩm mà trong đó văn chương đã được sử dụng như là “ một thứ khí giới thanh cao và đắc lực để “tố cáo và thay đổi một cái thế giới đầy rẫy những sự giả dối và tàn ác” các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn thường chỉ đề cập đến tình yêu, đem sự giải phóng cá nhân hoặc có một vài nhà văn lãng mạn chuyển sang một đề tài khác như Lan Khai với tác phẩm “Lầm than” … Những cái đó cũng chỉ là sự vượt biên chút ít, sau đó rồi lại cũng quay về với đề tài cũ. Còn các nhà văn hiện thực phê phán thì chỉ dùng các tác phẩm của mình để “lên án, tố cáo” cái xã hội “ giả dối và tàn ác” là xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời chứ chưa có một hướng đi nào đó để có thể thay đổi cái xã hội ấy tốt đẹp hơn lên.

Tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán thường có một cái kết thúc đi vào bế tắc, không có lối thoát. Đó chẳng qua là do nhận thức của nhà văn ấy chưa đến độ chín, có nghĩa là các nhà văn ấy chưa nhìn thấy rõ được tương lai, chưa hướng văn chương vào mục đích tốt đẹp, có hiệu quả nhất.

Nhưng nói thế nào thì cũng không có nghĩa là chỉ riêng một mình nhà văn Thạch Lam đã quan niệm đúng về văn chương và nhìn thấy rõ được tương lai. Quan niệm về văn chương là văn chương phải “thay đổi” được thế giới, chủ yếu do tính nhân đạo trong con người của ông. Ông không muốn nhìn thấy cái xã hội toàn sự dối lừa, độc ác, bạo tàn. Do vậy Thạch Lam luôn có ý muốn cho tác phẩm của mình, cho nhân vật của mình thoát ra những cái xấu xa để vươn tới sự tốt đẹp trong tương lai. Đây cũng là một lối suy nghĩ tốt đẹp của Thạch Lam. nhưng đâu phải dễ dàng một sớm một chiều có thể thay đổi được, điển hình như cái xã hội thực dân bạo tàn kia, sau này đành phải nhờ cách mạng mới có thể lật đổ và thay đổi được.

Dù sao đi nữa quan niệm về văn chương của Thạch Lam là một quan niệm được cho là rất đúng. Nó khái quát được một số những tác dụng và giá trị đích thực của văn chương. Văn chương ngày nay cũng cần phải phát huy thật triệt để những chức năng của mình, đồng thời phải góp phần làm thay đổi xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Trả lời câu 2 – trang 93 – sgk – ngữ văn 12 – tập 1: 

Nhà phê bình Hoài Thanh khi nhận định về thơ của Tố Hữu có  viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính đưa đến thành công của thơ anh”. Nhận định của nhà thơ Hoài Thanh rất đúng với cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu. Với nhà thơ Tố Hữu thơ ca và đời sống không hề có sự mâu thuẫn với nhau, sống là hành động, mà thơ cũng là hành động. Thơ của Tố Hữu là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng và của đời sống.

Tố Hữu là lá cờ đầu tiên của thơ ca Việt Nam, là nhà thơ có phong cách độc đáo: Trữ tình chính trị. Tất cả những đặc điểm của phong cách ấy đã in đậm trên từng tác phẩm, và con đường cách mạng của ông. Tố Hữu trước tiên được kể đến là một chiến sỹ yêu nước, ông lấy lý tưởng cộng sản để làm cảm hứng cho các sáng tác của mình. Vì thế, với ông thơ trước hết phải là phương tiện đắc lực phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị đã được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Với ông, thì thơ chính trị đã dần trở thành thơ trữ tình sâu sắc.

Lý tưởng cộng sản chính là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo trong thơ của  Tố Hữu. Nó chi phối  từ quan niệm nghệ thuật đến đề tài, chuyên đề, cảm xúc và cả các hình tượng của các nhân vật trữ tình. “Với Tố Hữu dù tả cảnh hay tả tình, khóc mình hay khóc người,  viết về vấn đề lớn hay nhỏ đều là để nói cho hết cái lý tưởng cộng sản ấy thôi” – trích Chế Lan Viên.

Nếu như trong tập thơ “Từ ấy” chúng ta bắt gặp lý tưởng cộng sản được thể hiện thật đẹp đẽ trong hình ảnh mặt trời chân lý và cảnh một ngày mai tương sáng. Sự giác ngộ cách mạng mang lại cho nhà thơ một nguồn cảm hứng lãng mạn, xây dựng nên một hình tượng trữ tình mới cho  người thanh niên cộng sản:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”

Con đường sự nghiệp văn chương của Tố Hữu gắn liền với cách mạng. Mỗi một thời khắc lịch sử của dân tộc đều được ông lấy làm nguồn cảm hứng sáng tác trong thơ ca của mình.Khi đọc thơ ca của ông chúng ta có thể thấy được sự đổi thay của cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ. Lý tưởng cộng sản của ông cũng dần được định hình rõ nét qua từng tác phẩm từ đó tạo nên được dấu ấn riêng mình.

Ở trong tập thơ “ Gió lộng” được viết vào những năm 1955 -1961  lý tưởng cộng sản được Tố Hữu thể hiện qua hai mảng đề tài và đây cũng là hai nhiệm vụ cao cả của cách mạng . Một là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

“ Yêu biết mấy những con người đi tới

Hai cánh tay như hai cánh bay lên

Ngực dám đón những phong ba bão táp

Chân đạp bùn không sợ các loài sên”

Hướng về miền Nam ruột thịt tác giả cũng đã dành những vần thơ để nói lên nỗi đau của những anh em bị thảm sát:

“ Hãy nghe tiếng của nghìn xác chết

Chết thê thảm, chết một ngày bi thiết

Cả nghìn người, trong một trại giam

Của một nhà tù lớn: Miền Nam!”

Thơ ca của Tố Hữu chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước từ con đường hoạt động cách mạng của bản thân. Nhưng nhà thơ Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị bằng tất cả sự nhiệt huyết của một trái tim giàu cảm xúc. Cái tôi trữ tình trong thơ của Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái tôi chiến sĩ nhưng theo năm tháng càng về sau cái tôi ấy càng nhân danh cách mạng, nhân danh dân tộc. Ông đã dành cả cuộc đời của mình cho cách mạng cho dân tộc và chính bằng trái tim nhiệt huyết đầy yêu thương của mình.

“Chỉ là một giữa loài người đau khổ

Vứt trong lồng con giữa một lồng to

Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do

Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu”

Tính chính trị trữ tình trong thơ Tố Hữu đã tạo nên khuynh hướng sử thi và nguồn cảm hứng lãng mạn. Nổi bật lên trong thơ của Tố Hữu là vấn đề vận mệnh của dân tộc, cộng đồng chứ không phải là vấn đề về cá nhân. Nói đúng hơn số phận cá nhân hòa chung với số phận dân tộc, cộng đồng. Thơ ông dạt dào nguồn cảm hứng lãng mạn hướng về lý tưởng cộng sản và tương lai một xã hội chủ nghĩa.Để có thể thể hiện được cuộc sống cảm quan ấy, thế giới hình tượng trong thơ Tố Hữu là cả một thế giới cao cả, lý tưởng của ánh sáng, gió lộng và niềm tin.

Bài thơ Việt Bắc là bài thơ đại diện thể hiện rõ nét nhất lý tưởng cộng sản, con đường cách mạng cũng như tính dân tộc, sử thi trong thơ ca của ông. Những câu thơ lục bát mang tính truyền thống của dân tộc vốn mềm mại, uyển chuyển nhưng lại thể hiện khí chất hùng tráng mạnh mẽ. Những câu thơ rất đỗi lãng mạn đã tạo nên một vẻ đẹp lý tưởng của cả một dân tộc anh hùng. Ở đó thể hiện được tư thế kỳ vĩ, ngạo nghễ của những người anh hùng được hòa quyện vào trong nét đẹp bình dị, thân thiết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

Khí thế hào hùng của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến đã được tái hiện một cách sinh động trong những dòng thơ mang đậm chất sử thi. Hình ảnh có sức khái quát lớn lao, giúp người đọc có thể hình dung được rừng cây núi đá cùng những con người đứng lên kháng chiến. Núi là lũy sắt, rừng là trận địa để che cho bộ đội, để vây quân thù. Hình ảnh đó có khả năng làm tái hiện hiện thực của cuộc kháng chiến đầy gian khổ, những anh hùng của dân tộc, làm nổi bật lên tinh thần quyết chiến, quyết thắng khát vọng cứu nước, cứu nhà và lòng căm thù giặc sục sôi trong mỗi con người. Câu thơ ” Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” cân xứng cả về ý tứ lẫn nhịp điệu vừa lãng mạn vừa hào hùng vừa làm ngời sáng khí phách của đoàn quân ta khi ra trận, của cả một dân tộc cùng với những ánh hào quang rực rỡ của lý tưởng của khát vọng chiến thắng.

Bên cạnh đó thơ của Tố Hữu còn có giọng điệu rất dễ nhận ra đó là mang một giọng điệu tâm tình là tiếng nói của tình thương mến. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói “Thơ của Tố Hữu là thơ cách mạng, chứ không phải thơ về tình yêu, nhưng thơ anh là của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng cả trái tim của một người say đắm. Cái sức mạnh lớn nhất của Tố Hữu là trái tim của anh”. Điều này rất dễ nhận thấy trong bài thơ Việt Bắc khi đã sử dụng thể thơ lục bát cùng với cách đối đáp giao duyên ngọt ngào thiết tha cùng với cặp đại từ nhân xưng “minh , ta” nhịp nhàng sánh đôi làm sao.

Việc khẳng định phong cách thơ trữ tình chính trị đã đưa nhà thơ Tố Hữu lên vị trí trang trọng trong nền thơ ca của dân tộc. “Thời đại anh hùng đòi hỏi những lời lẽ anh hùng”. Khí thế oai hùng mãnh liệt của những ngày chiến đấu cam go đã dội vào thơ anh, in đậm trong thơ Tố Hữu những nét không thể phai nhạt. Đúng như những gì nhà phê bình Hoài Thanh viết:”Thái độ toàn tâm toàn ý với lý tưởng cách mạng đã mang đến sự thành công trong sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu”.

Trên đây là bài viết chi tiết hướng dẫn các bạn “Soạn bài nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học ngữ văn lớp 12” do butbi.hocmai biên soạn. Chúc các bạn học hiệu quả!