Tác giả tác phẩm Thương vợ

0

Tác giả tác phẩm Thương vợ: Giới thiệu một vài nét về Trần Tế Xương và tác phẩm “Thương vợ “ là tài liệu văn mẫu lớp 11 hay được Bút Bi sưu tầm, giúp các em hiểu hơn về Trần Tế Xương và bài Thương vợ của ông. Chúc các em học tốt môn Ngữ văn 11.

Tham khảo thêm:

1. Tiểu sử về Trần Tế Xương

Trần Tế Xương hay còn được gọi là Tú Xương, ông sinh ngày 5 tháng 9 năm 1870  và mất ngày 29 tháng 1 năm 1907, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh) là một nhà thơ người Việt Nam.

Ông thuộc một dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, sau đổi thành họ Trần là bởi vì vào đời nhà Trần lập công lớn được phong quốc tính (vua cho đổi theo họ nhà vua). Ông nội của Trần Tế Xương  có tên là Trần Duy Năng. Thân sinh của Trần Tế Xương chính là cụ Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa nhưng không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 tất cả người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là con trưởng.

Ông đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng là thông minh. Hồi ông mới lên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy ở trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối rằng: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc), và Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở trước hiên và đối: “Lung trung bách thanh điểu” (ở trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối tấm tắc khen nhưng rồi lại thở dài “đời thằng bé lại lẩn quẩn như chim nhốt trong lồng”. Ông học chữ Hán cụ kép làng Thành Thị, có tên là Trần Chấn Thái, ngồi bảo học ở Thành Nam.

Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của ông đã nằm gọn ở trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Trước lúc ông ra đời 3 năm thì 6 tỉnh ở  Nam Kỳ mất trọn cho Pháp. Tú Xương lên 3 thi Bắc Kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất. Tú Xương 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ 2 và  bị mất nốt. Hiệp ước Harmand 1883 rồi tới hiệp ước Patenôtre 1884 thừa nhận quyền thống trị của Pháp ở trên đất Việt Nam. các phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra rất sôi nổi nhưng lần lượt thất bại. Tú Xương sinh ra và lớn lên ở trong bối cảnh lịch sử đó.

Tú Xương lấy vợ từ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn.

Ông đi thi từ lúc 17 tuổi, đó chính là khoa Bính Tuất (1886). Các tài liệu khác chép nhâm là khoa Ất Dậu (1885).

2. Con đường nghệ thuật của Trần Tế Xương

Tuy sự nghiệp sáng tác của ông không quá dài nhưng Trần Tế Xương đã để lại cho văn học dân tộc một sự nghiệp thơ ca vô cùng đáng nể với số lượng tác phẩm trên 150 bài bằng chữ Nôm với đủ các thể loại như là thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, lục bát, …

Hầu hết, nội dung các tác phẩm của ông đều được nói về khoa cử, nho học với hình ảnh của một nền nho học đang thoái hóa rất trầm trọng và cảnh nghèo khó của các gia đình ở trong hoàn cảnh đất nước loạn lạc, lên án xã hội thực dân – nửa phong kiến.

Ngoài ra, ông còn rất dũng cảm dùng ngòi bút trào phúng và giọng văn châm biếm sâu cay để đả kích, phê phán về bọn thực dân Pháp và bọn quan lại, tay sai đồng thời vạch trần thói gian ác, thủ đoạn bần tiện bán rẻ lương tâm mình chạy theo tiền bạc của chúng.

Đặc biệt, Trần Tế Xương đã dành hẳn một đề tài để viết về người vợ của mình để bày tỏ tính yêu thương và sự trân trọng đối với sự hi sinh cao cả của người vợ một nắng hai sương chăm chỉ, chịu khó và sống một cuộc đời vì gia đình, vì chồng vì con. Qua đó ông muốn ca ngợi về hình ảnh người phụ Việt Nam ngày xưa luôn tần tảo, thương chồng, thương con và nhẫn nại quên mình…

Trong đó, bài thơ chân thành và xúc động nhất chính là bài thơ Thương vợ, được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. 

3. Phong cách sáng tác của Trần Tế Xương

Mặc dù sự nghiệp cầm bút của ông không quá dài thế nhưng số lượng tác phẩm Trần Tế Xương để lại cho nền văn học dân tộc quả là khiến cho người ta phải nể phục. Với số lượng tác phẩm trên 150 bài thơ đủ về  các thể loại.

Hầu hết nội dung ở trong tác phẩm của ông đều nói về khoa cử, nho học và hình ảnh một nền nho học đang bị thoái hóa và cảnh nghèo khó của dân ở trong hoàn cảnh đất nước.

Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ngòi bút trào phúng và châm biếm phê phán chế độ phong kiến mục nát, bọn thực dân Pháp tàn ác, quan lại và tay sai cho giặc. Ông luôn đứng về phía những người dân nghèo.

4. Các tác phẩm tiêu biểu của Trần Tế Xương

Tú Xương con người và nhà thơ của Trần Thanh Mại, Trần Tuấn Lộ – nhà xuất bản Văn hóa

Thơ văn Trần Tế Xương – nhà xuất bản Văn học (1970)

Tú Xương thi tập do nhà sách Phúc Chí – 95 Hàng Bồ, Hà Nội

Trông dòng sông Vị (Văn chương và thân thế Trần Tế Xương)

Vị Xuyên thi văn tập của Sở Cuồng (tức Lê Dư), Nam Kỳ thư quán (1931 – sau có tái bản)

5. Những nhận định về Trần Tế Xương

Nguyễn Công Hoan suy tôn Trần Tế Xương là bậc thần thơ thánh chữ.

Xuân Diệu xếp hạng Tế Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm.

Tản Đà khi còn sống đã nói  “trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tế Xương” (Xuân Diệu kể vậy). Tản Đà tự nhận ở trong đời thơ của mình mới dịch nổi Tế Xương một lần thôi bằng chữ “vèo” ở trong bài thơ Cảm thu, Tiễn thu của ông: Vèo trông lá rụng đầy sân. Nguyễn Công Hoan cũng đã kể vậy.

Nguyễn Tuân biểu dương Tú Xương là: một người thơ, là một nhà thơ vốn nhiều công đức ở trong cuộc trường kỳ xây dựng lên tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam.

Hy vọng bài soạn tác giả tác phẩm Thương vợ trên đây của Bút Bi sẽ giúp các bạn học tốt hơn trong chương trình ngữ văn lớp 11.