Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu

0

Bài viết hướng dẫn Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức với cuộc sống tập một được Butbi biên soạn giúp các bạn học sinh chuẩn bị tốt cho tiết học trên lớp sắp tới. Bài viết gồm có phần chuẩn bị, trả lời câu hỏi và bài thuyết trình mẫu tham khảo. Cùng theo dõi ngay sau đây!

soan-bai-lang-nghe-va-phan-hoi-ve-noi-dung-mot-bai-thuyet-trinh-ket-qua-nghien-cuu

Tham khảo thêm bài viết:

1. Chuẩn bị nói và nghe | Soạn bài Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu

a) Chuẩn bị nói

– Việc đầu tiên, cần phải xây dựng được một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu dựa trên các bài công trình nghiên cứu đã có.

– Khi thuyết trình, người nói dựa trên văn bản đã soạn, cần phải nêu rõ vấn đề nghiên cứu những luận điểm chính được đề xuất, các bằng chứng và lý lẽ đã sử dụng để làm rõ được hệ thống luận điểm đặc biệt cần phải nhấn mạnh những phát hiện mới về vấn đề. Để viết thuyết trình đạt hiệu quả cao và thu hút được sự chú ý của người nghe, bạn có thể dùng thêm các phương tiện hỗ trợ như sơ đồ, hình ảnh, bảng biểu,… nhằm cụ thể hóa trực quan hóa nội dung của bài thuyết trình.

b) Chuẩn bị nghe

– Bạn cần tìm hiểu trước về tên của bài thuyết trình kết quả nghiên cứu, cũng là vấn đề sẽ được trình bày để có định hướng nghe phù hợp. Cần phải hình dung hướng triển khai của chính mình để dễ nhận ra những nét riêng trong cách giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà tác giả của bài thuyết trình đã thực hiện. VD: Viết lại những điều bạn đã biết và muốn được biết dựa trên sơ đồ K – W – L:

K (What we know)

W (What we want to learn)

L (What we learned)

2. Thực hành nói và nghe | Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu

a) Chuẩn bị

Người nói:

– Mở đầu: Nêu vấn đề nghiên cứu và lý do lựa chọn vấn đề đó; trình bày ngắn gọn về cách thức và quá trình thực hiện công việc nghiên cứu.

– Triển khai: Dựa vào bài báo cáo kết quả nghiên cứu để trình bày tóm tắt những luận điểm, thông tin chính có trong công trình nghiên cứu, kết hợp cùng việc trình chiếu PowerPoint (nếu có).

– Kết luận: Khái quát lại những kết quả nghiên cứu chính, khẳng định ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu và gợi mở ra những hướng tiếp cận mới.

Người nghe:

– Nắm bắt được mục đích bài nghiên cứu của người thuyết trình (chú ý lắng nghe phần mở đầu và phần kết thúc bản thuyết trình để có những thông tin cần thiết).

– Nhận biết được cấu trúc của bài thuyết trình kết quả nghiên cứu (những luận điểm lớn, luận điểm nhỏ, hình ảnh, bằng chứng, số liệu, …). Khi lắng nghe thuyết trình, nên ghi lại các từ khóa, sử dụng một số kí hiệu thông dụng để đánh dấu những luận điểm lớn, luận điểm nhỏ và mối quan hệ giữa chúng.

– Theo dõi và đánh giá được tác dụng sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh, động tác hình thể mà tác giả của bài hay báo cáo nghiên cứu đã dùng lúc thuyết trình.

– Phát hiện các bằng chứng, tư liệu nhưng chưa đủ độ tin cậy ở trong bài thuyết trình: xem xét kĩ xuất xứ của các dữ liệu, bằng chứng được cung cấp để kiểm chứng được tính trung thực, chính xác, đáng tin cậy của nguồn thông tin, phát hiện ra được những điểm mâu thuẫn ở trong lập luận của người thuyết trình.

b) Bài nói mẫu tham khảo

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống có từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc đậm đà nhất của Việt Nam. Loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc này có sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, nhạc, múa, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo. Cách bài trí bố cục sân khấu hát chèo là một khâu quan trọng để góp phần tạo nên được giá trị văn hóa đặc sắc của loại hình nghệ thuật dân gian này.

soan-bai-lang-nghe-va-phan-hoi-ve-noi-dung-mot-bai-thuyet-trinh-ket-qua-nghien-cuu-1

Dựa trên khảo sát, thống kê về cách bài trí sân khấu của một số vở chèo đã được trình diễn, nhóm em nhận thấy các dụng cụ ở trên sân khấu của từng vở chèo đều có những vai trò khác nhau, có sự liên quan tới nội dung kịch bản. Nhóm em cho rằng không thể sử dụng cách bài trí sân khấu của những loại hình nghệ thuật khác để đánh giá về cách bài trí sân khấu của chèo.

Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có Kinh kịch của Bắc Kinh là đại diện tiêu biểu; Nhật Bản là kịch nô đại diện cho nghệ thuật truyền thống thì chèo là sân khấu truyền thống Việt Nam tiêu biểu nhất. Sân khấu chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp nhiều yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện để giao lưu với công chúng, và có thể biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, đa dạng có thể là sân đình, sân khấu chuyên nghiệp, các lễ hội tại một số đền chùa,… Quy mô lớn nhất của các đơn vị nghệ thuật Chèo chính là Nhà hát Chèo rồi đến Đoàn Chèo, một số tỉnh chỉ biên chế một đội hoặc tổ Chèo thuộc đoàn nghệ thuật.

Trước kia chèo chỉ gồm phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do những người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm cả phần hát. Nội dung của những vở chèo lấy từ những truyện cổ tích hoặc truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang theo giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Tiếng hát chèo đã đi vào trong tiềm thức của bao thế hệ người Việt, chúng ta ấn tượng về loại hình chèo qua những câu ca dao:

Ăn no rồi lại nằm khoèo

Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem

Chẳng thèm ăn chả ăn nem

Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo

Trong kịch bản chèo, những nhân vật hiện ra qua những cái tên, qua hình tượng được tác giả tạo ra. Còn trên sân khấu chèo, những diễn viên sẽ là người lột tả cái đẹp, cái hay, cái xấu, cái ác của các nhân vật đó. Chèo không có một cấu trúc cố định năm hồi một kịch giống như trong sân khấu châu Âu mà các nghệ sĩ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Diễn viên đóng chèo nói chung đa số là những người không chuyên, hợp nhau ở trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hoặc phường trò. Điển hình là một số nghệ sĩ như NSƯT Thảo Quyên, NSƯT Văn Bằng, NSUT Thu Huyền, NSUT Thu Hà, NSND Đình Óng, NSND Quốc Trượng,… là những nghệ sĩ đã hiện thực hóa được hình tượng các nhân vật trong kịch bản chèo.

Chèo sử dụng tối thiểu hai loại nhạc cụ dây là đàn nhị và đàn nguyệt, đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn dùng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ gồm có trống cái, trống cơm, trống con, thanh la, mõ. Trống con sử dụng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm câu hát. Có câu nói “phi trống bất thành chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống ở trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm những nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn tam thập lục, đàn thập lục, đàn nguyệt, tiêu,…

Hát chèo đã từng in đậm nét ở trong tiềm thức dân gian người Việt, không chỉ riêng với vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn tỏa rộng, vươn xa ở trong đời sống văn hóa – nghệ thuật đương đại của cả đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội, các loại hình giải trí mới ra đời, rất nhiều người đã không còn mặn mà với sân khấu chèo nữa. Sân khấu cổ truyền Việt Nam nói chung và loại hình nghệ thuật chèo nói riêng dần dần mất đi vị thế của riêng mình.

soan-bai-lang-nghe-va-phan-hoi-ve-noi-dung-mot-bai-thuyet-trinh-ket-qua-nghien-cuu-2

Các nghiên cứu về loại hình chèo nói chung và nghiên cứu về sân khấu chèo nói riêng còn tồn đọng rất nhiều vấn đề vẫn chưa được triển khai cụ thể. Chính vì vậy mà các kịch bản chèo đang dần biến mất đi, nghệ thuật sân khấu chèo đang dần bị lãng quên vì sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Chèo cần phải có sự thích nghi nhất định với thời cuộc để tránh bị rơi vào trong hoàn cảnh như một di sản phi vật thể chỉ dùng để bảo tồn, tránh làm mất đi một trong những loại hình nghệ thuật kể chuyện bằng sân khấu tiêu biểu nhất của dân tộc ta.

3. Trao đổi | Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu

a) Người nghe

– Đặt các câu hỏi với một thái độ tìm hiểu chân thành đề nghị người thuyết trình làm rõ thêm những vấn đề chưa rõ trong nội dung bài thuyết trình.

– Phản biện lại những điểm còn mơ hồ, mâu thuẫn và thiếu chính xác trong bài thuyết trình với thái độ xây dựng; chỉ ra những lỗi về lập luận, đối chiếu với các dữ liệu được trình bày cùng các dữ liệu từ các nguồn thông tin khác để giúp người thuyết trình chỉnh sửa và hoàn thiện thêm bài thuyết trình.

– Đánh giá khái quát về nội dung của bài thuyết trình và sự thuyết trình, chỉ ra được những điểm tích cực và những điểm chưa hợp lý.

– Trình bày về góc nhìn, cách kiến giải khác về vấn đề được đề cập trong bài thuyết trình(có thể cung cấp tài liệu của những tác giả khác hoặc đưa ra quan điểm, góc nhìn riêng bạn về vấn đề ấy).

b) Người nói

– Tiếp nhận những ý kiến, phản hồi và trao đổi cùng với các thành viên khác trong nhóm, lớp với một thái độ cầu thị (bảo lưu hoặc tiếp thu, nêu ra phương án để sửa chữa, hoàn thiện,…)

– Để tự đánh giá và đánh giá được một cách khách quan, toàn diện về bài thuyết trình của mình, các bạn có thể tham khảo các tiêu chí và nội dung đánh giá ở trong bảng sau đây:

soan-bai-lang-nghe-va-phan-hoi-ve-noi-dung-mot-bai-thuyet-trinh-ket-qua-nghien-cuu-0

 

Trên đây Butbi đã hướng dẫn các bạn Soạn bài Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu SGK mới Ngữ văn 10 Kết nối tri thức với cuộc sống. Hãy tham khảo thật kỹ bài viết trên để chuẩn bị bài soạn thật tốt các bạn nhé!