Phân tích Rừng xà nu | Ngữ văn 12

0

Phân tích Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành hay, chi tiết nhất. Rừng cây xà nu chính là biểu tượng của mảnh đất và con người nơi núi rừng Tây Nguyên trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Trong bài viết này Butbi xin chia sẻ dàn ý chi tiết cùng bài văn mẫu phân tích tác phẩm Rừng xà nu hay nhất , qua đó sẽ giúp các bạn nắm rõ nội dung và ý nghĩa của tác phẩm này, cùng tham khảo nhé.

Phân tích Rừng xà nu | Ngữ văn 12
Phân tích Rừng xà nu | Ngữ văn 12

Tham khảo thêm:

I, Dàn ý chi tiết phân tích Rừng xà nu

1, Mở bài

– Giới thiệu tác giả – nhà văn Nguyễn Trung Thành: là nhà văn có vốn hiểu biết sâu sắc về con người và mảnh đất Tây Nguyên, ông có nhiều tác phẩm đặc sắc viết về mảnh đất này.

– Giới thiệu tác phẩm – truyện ngắn Rừng xà nu : đây được coi là thiên sử thi Tây Nguyên trong thời kì chống Mĩ, tái hiện con đường đấu tranh anh dũng để giành lại tự do của con người Tây Nguyên.

2, Thân bài

a) Hình tượng cây xà nu

– Đây là loài cây có sự gắn bó thân thiết với mảnh đất Tây Nguyên bởi nó luôn xuất hiện trong cuộc sống đời thường của con người nơi đây: lửa xà nu cháy trong bếp, khói xà nu để hun bảng đen, đuốc xà nu cháy sáng để mài vũ khí hay lửa xà nu soi rõ xác 10 thằng giặc, ….

– Loài cây đã hứng chịu sự tàn phá dữ dội của chiến tranh: đạn đại bác chiến tranh rơi vào ngọn đồi xà nu khiến cả rừng xà nu không cây nào là không bị thương. Mượn nỗi đau, mất mát của cây xà nu để nói về nỗi đau của dân làng Xô Man.

– Loài cây có sức sống vô cùng mãnh liệt: “bên cạnh một cây xà nu ngã gục đã có 4,5 cây con mọc lên”  trong đoạn đầu tác phẩm, hay câu “cây mẹ ngã đã có cây con mọc lên”. Đó chính là hình ảnh biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ, kiên cường và sự nối tiếp của các thế hệ con người Tây Nguyên.

– Là một loài cây ham ánh sáng, giống như những người dân Tây Nguyên mong muốn tự do, có khát vọng sống mãnh liệt.

b) Các thế hệ anh hùng ở mảnh đất Tây Nguyên

* Nhân vật cụ Mết

– Ngoại hình/dáng vẻ: quắc thước được miêu tả qua các hình ảnh “râu dài đến ngực mà vẫn đen bóng” hay “vết sẹo ở má phải” =>  Cụ là người đã trải qua biết bao thăng trầm, tuy lớn tuổi nhưng Cụ vẫn khỏe mạnh với “đôi bàn tay nặng trịch như kìm sắt”, “ngực căng như một cây xà nu lớn”, …. Cụmang dáng dấp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên.

– Giọng nói của Cụ “ồ ồ dội vang trong lồng ngực ”, mỗi câu nói cụ nói ra như một chân lí “không có gì mạnh bằng cây xà nu…”, “cán bộ là Đảng, … nước này còn”, hay “chúng nó cầm súng … ta cầm giáo”.

– Tích cách, phẩm chất: Cụ là người quả quyết, gan dạ, sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng, luôn yêu thương và che chở cho dân làng. Cụ Mết là biểu tượng của thế hệ anh hùng đi trước, mang đầy đủ những vẻ đẹp con người Tây Nguyên.

* Nhân vật Tnú – người anh dùng dân tộc

– Từ nhỏ Tnú đã mang những nét tính cách phi thường: anh gan dạ xung phong đi nuôi giấu cán bộ trong rừng, từ nhỏ đã giác ngộ lí tưởng cách mạng, đi rừng rất nhanh nhẹn, bị giặc bắt mà không hề run sợ, gan dạ khi dám chỉ tay và bụng “cộng sản đây này”.

– Khi trưởng thành, Tnú trở thành một người cán bộ cách mạng:

  • Anh là người có trái tim tràn đầy tình yêu thương: khi chứng kiến cảnh vợ con bị bắt giết, anh không chịu đựng được mà lao ra cứu nhưng bị bọn giặc bắt.
  • Là một người cộng sản kiên trung, anh dũng: khi bị giặc đốt 10 đầu ngón tay anh nhưng anh không kêu van “người cộng sản không hề kêu van”, mà ngược lại còn  “trợn mắt nhìn thằng Dục” dùng đôi bàn tay cháy của mình để cầm súng giết giặc, …

– Nhận xét: Tnú là người anh hùng, người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên, là nòng cốt của cuộc kháng chiến, biết nén lại những đau thương cá nhân vì lợi ích của cộng đồng.

* Nhân vật Dít

– Là một người con gái gan dạ, dũng cảm, kiên cường có sức chịu đựng phi thường, biết nén đau thương, mất mát để nung nấu ý chí trả thù: đem gạo vào rừng tiếp tế cho dân làng, giặc bắn súng dọa vẫn nhất quyết không khai, chị mất nhưng không khóc, …

* Nhân vật bé Heng

– Bé Heng tuy nhỏ tuổi nhưng cậu đã xung phong đi làm nhiệm vụ: thông thuộc từng hố chông, từng chiến điểm trong khu rừng để dẫn đường cho các cán bộ cách mạng, cho khách đến làng.

– Cậu “là lứa xà nu mới mọc nhưng đã nhọ hoắt như lưỡi lê”, là những người sẽ tiếp nối thế hệ anh hùng đi trước như Tnú, hứa hẹn một sự vươn lên vững chắc.

– Nhận xét chung: họ là một tập thể anh hùng kiên trung, bất khuất, luôn nối tiếp những truyền thống tốt đẹp: giàu tình yêu thương, lòng căm thù giặc sâu sắc, trung thành với Đảng và cách mạng. Qua họ ta có thể thấy được những phẩm chất cao đẹp và con đường cách mạng của người dân Tây Nguyên.

3, Kết bài

– Khái quát giá trị nghệ thuật của tác phẩm: với kết cấu truyện lồng truyện, đầu cuối tương ứng vô cùng đặc sắc, ngôn ngữ đậm chất sử thi, nhưng cũng mộc mạc giản dị, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, …

– Khái quát giá trị nội dung: truyện ngắn Rừng xà nu như một khúc sử thi văn xuôi hiện đại đã tái hiện lên vẻ đẹp tráng lệ, hùng vĩ, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

II, Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu

1. Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu tổng quát

Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu
Sơ đồ tư duy phân tích Rừng xà nu

2. Sơ đồ tư duy phân tích hình ảnh Rừng Xa nu

Sơ đồ tư duy phân tích hình ảnh Rừng Xa nu
Sơ đồ tư duy phân tích hình ảnh Rừng Xa nu

3. Sơ đồ tư duy phân tích nhật vật Rừng xà nu

Sơ đồ tư duy phân tích nhật vật Rừng xà nu
Sơ đồ tư duy phân tích nhật vật Rừng xà nu

4. Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật tnú trong rừng xà nu

 Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật tnú trong rừng xà nu
Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật tnú trong rừng xà nu

III, Bài văn mẫu phân tích Rừng xà nu hay nhất được chọn lọc

Truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành được sáng tác vào năm 1965, đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt, đặc biệt là ở chiến trường Tây Nguyên, quân Mỹ đang đổ bộ vào để khủng bố và giết chóc. Ra đời trong hoàn cảnh khốc liệt đó, tác phẩm mang ý nghĩa quan trọng  lớn lao như nguồn cổ vũ và động viên dành cho con người, cho dân tộc Việt Nam, là động lực để quân và dân ta kiên cường đấu tranh.

Ngay ở nhan đề của tác phẩm, ta đã có thể hình dung về những cánh rừng xà nu xanh ngát bạt ngàn và có sức sống mãnh liệt như những người dân, người anh hùng của buôn làng Xô Man.  Và hình ảnh cây xà nu được xuất hiện xuyên suốt tác phẩm. Cây xà nu là một loài cây thuộc họ thông, nó là loài cây đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân làng Xô Man: lửa xà nu trong mỗi bếp, khói xà nu để hun bảng đen, trong đống lửa nhà ưng,… cây xà nu còn là chứng nhân lịch sử đã chứng kiến quá trình đấu tranh anh dũng của dân làng Xô Man, điều đó được thể hiện qua câu “đuốc xà nu được thắp lên trong những đêm người dân mài vũ khí” …. Dưới tầm bắn của đại bác, rừng xà nu đã vươn tấm thân lớn của mình ra để che chở cho dân làng, thay dân làng gánh chịu những đau thương để rồi “cả rừng hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. Không chỉ có vậy, cây xà nu còn là nhân chứng trong cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man trong đêm Tnú bị tra tấn, cây xà nu đã luôn kề vai sát cánh cùng con người chiến đấu. Ngoài ra, cây  xà nu còn mang những vẻ đẹp biểu tượng cho phẩm chất, tâm hồn con người và ý chí của người dân Tây Nguyên nói chung và của dân làng Xô Man nói riêng. Loài cây này có sức sống mãnh liệt, sinh sôi nảy nở rất khoẻ, những cây con mọc lên rất nhanh để thay thế những cây đã ngã, vẻ đẹp ấy tượng trưng cho sức sống bất diệt, sự kiên cường bất khuất của người dân làng Xô Man. Chúng cũng rất ham ánh sáng mặt trời nên thường vươn cao, thẳng tắp để đón ánh nắng giống như tinh thần yêu cách mạng, yêu tự do của người dân làng Xô Man, từ người già đến trẻ nhỏ trong làng đều một lòng tin vào lời dạy của cụ Mết: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Cây xà nu thường mọc thành rừng như biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, gắn bó của dân làng Xô Man, trong mọi hoàn cảnh dù có gian khổ, đau thương hay mất mát thì các thế hệ người dân làng Xô Man vẫn luôn kề vai sát cánh bên nhau, trên dưới đồng lòng và tuyệt đối trung thành với lời của cụ Mết cũng như trung thành với đảng, cách mạng. 

Qua việc phân tích rừng cây xà nu, ta có thể thấy đây là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Rừng xà nu có khi được nhìn từ phía xa, có khi lại được miêu tả rất gần. Xà nu không chỉ là một hình ảnh thực mà nó còn mang ý nghĩa biểu tượng, tượng trưng cho khí chất, cho dáng dấp, cho phẩm chất của những con người anh hùng Tây Nguyên.

Mặc dù rừng xà nu là hình ảnh đầu tiên được nhắc đến cũng như là đi xuyên suốt tác phẩm  nhưng vẻ đẹp về phẩm chất con người Tây Nguyên là những nhân vật mà nhà văn muốn khắc họa hơn cả.

Và tiêu biểu cho những con người ấy là người anh hùng Tnú –  một người chiến sĩ trẻ kiên cường, bất khuất. Ngay từ khi còn nhỏ, Tnú đã xung phong vào rừng nuôi cán bộ. Khi Tnú học chữ thua Mai, Tnú đã lấy đá tự đập vào đầu mình. Nhưng được anh Quyết – người cán bộ cách mạng khuyên nhủ “Tnú phải làm cán bộ thay anh”, nên Tnú đã quyết tâm học chữ.

Khi đi liên lạc trong rừng, Tnú cứ “xé rừng mà đi”, “lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình”. Tnú cũng là một người nhanh trí, thông minh được thể hiện qua hình ảnh khi bị giặc bắt anh liền nuốt thư vào bụng.

Khi lớn lên, Tnú cùng dân làng Xô Man mài vũ khí để chiến đấu. Khi thằng Dục biết được tin này, chúng đã tìm mọi cách bắt Tnú. Khi chứng kiến cảnh hai mẹ con Mai bi bắt, bị tra tấn và bị giết chết trước mắt mình Tnú đã không chịu được mà lao ra. Anh bị bọn giặc bắt được và bị tra tấn dã man bằng cách quấn giẻ đã tẩm dầu xà nu lên hai bàn tay rồi đốt. Nỗi đau tinh thần khi mất vợ con cùng nỗi đau về thể xác đã biến thành nỗi căm hờn, uất hận trong Tnú.

Lúc này, dù cho đau đớn đến mấy Tnú cũng không kêu lên một tiếng, mà chỉ trợn mắt nhìn thằng Dục. Sự căm thù, uất hận và tinh thần kiên cường đã khiến anh “không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa”, mà anh chỉ nghe như lửa đang cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng: “Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”. Qua đó có thể thấy, Tnú không chỉ là người mang phẩm chất cao đẹp của người anh hùng mà còn là một người sâu nặng nghĩa tình. Tnú cũng là một người chồng, người cha yêu thương vợ con hết mực.

Bên cạnh nhân vật Tnú, nhà văn Nguyễn Trung Thành còn khắc họa thành công các nhân vật khác như anh Quyết, cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng… Qua các nhân vật này, nhà văn đã làm nổi bật những thế hệ anh hùng nối tiếp nhau, luôn một lòng yêu nước, một lòng đi theo lý tưởng của Đảng, cách mạng.

Anh Quyết là người cán bộ cách mạng, là người thầy đã dạy chữ cho Mai và Tnú. Anh cũng là người có vai trò nhen nhóm lên “ngọn lửa yêu nước”,  “ngọn lửa đấu tranh” cho người dân Tây Nguyên. Anh như người đi trước khai sáng, là người giáo dục tinh thần cách mạng cho những thế hệ trẻ. Bằng tấm lòng và bằng tình yêu nước sâu sắc anh đã khơi gợi tinh thần chiến đấu vì lí tưởng cách mạng, tin theo Đảng và bác Hồ ở Tnú.

Bài phân tích “Rừng xà nu” sẽ không được trọn vẹn nếu ta không nhắc đến cụ Mết. Cụ Mết là già làng cũng là người anh hùng thuộc thế hệ trước, chính cụ là người đã lãnh đạo buôn làng nổi dậy chiến đấu. Và cụ cũng là người kể chuyện cho các thế hệ thanh niên trong làng Xô Man về cuộc đời bi thương mà anh dũng của Tnú. Cụ cũng được trao cho sứ mệnh cao cả là truyền đạt và khẳng định con đường cách mạng mà nhân dân ta phải đi, đó chính là “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Nghĩa là chúng ta không thể mãi chịu áp bức của bọn xâm lược được mà chúng ta phải đứng dậy, phải cầm giáo, cầm vũ khí đấu tranh cho chính nghĩa.

Những thế hệ sau của anh Quyết, của cụ Mết, của Tnú chính là Dít và Heng, chúng sẽ là những người nối tiếp con đường của thế hệ đi trước. Dít ngay từ khi còn nhỏ đã là một người gan dạ nhờ vào sự giáo dục về lí tưởng cách mạng của thế hệ đi trước. Dù chỉ là một cô bé, nhưng Dít đã rất bản lĩnh, dũng cảm không hề run sợ trước súng đạn của quân địch. Sau này Dít lớn lên và trở thành một chính trị viên xã đội, bí thư chi bộ. 

Còn cậu bé Heng, ngày mà Tnú rời làng đi, “nó mới chỉ đứng đến ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ mới đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy”, nhưng nay khi Tnú về thăm làng, Heng đã trở thành một người lính bản lĩnh, gan dạ, kiên cường. Heng thông thuộc hết những chỗ có hầm chông, hố chông để có thể dẫn Tnú đi qua cánh rừng toàn là bẫy giặc. Và dù cậu vẫn còn là một đứa trẻ, nhưng đã rất dũng cảm, cậu cũng chính là mảnh ghép không thể thiếu của một tập thể anh hùng trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước của dân tộc.

Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy, tác phẩm thấm đẫm chất sử thi hùng tráng. Điều nà được thể hiện ngay từ chủ đề của tác phẩm, đến nhân vật và giọng điệu kể chuyện. Thông qua tác phẩm “Rừng xà nu”, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã tái hiện một không khí hào hùng, Oanh liệt một thời chống Mỹ của buôn làng Xô Man nói riêng và của cả dân tộc ta nói chung.

Như đã phân tích xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, ta có thể thấy điểm nổi bật nhất của “Rừng xà nu” không chỉ là hình ảnh cánh rừng hay những cây xà nu ở phần đầu mà còn ở tuyến nhân vật là những người anh hùng, kiên trung, bất khuất giữa núi rừng Tây Nguyên đại ngàn. Phân tích rừng xà nu ta như đang hát một khúc hát về chiến đầu hào sảng, được hòa mình vào khí thế đấu tranh hào hùng của những người dân buôn làng Xô Man chân chất và anh dũng. Đồng thời, với sự kết hợp giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nhà văn đã mang đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về hình tượng cây xà nu và những con người “anh hùng dân tộc” của làng Xô Man cũng như của dân tộc trong thời chiến tranh chống Mỹ. Từ đó, tô đậm truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc, qua đó cũng cổ vũ và ca ngợi thế hệ con em noi gương cha anh để tiếp bước gìn giữ non sông.

Như vậy, Butbi đã chia sẻ cho các bạn bài phân tích chi tiết truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, mong rằng với bài viết này các bạn có thêm những ý tưởng cho bài viết của mình thêm đầy đủ, đặc sắc và hay hơn. Chúc các bạn học tập tốt.