Phân tích bài Người lái đò sông Đà | Ngữ văn 12

0

Phân tích bài Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân hay nhất được chọn lọc: Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân viết về thiên nhiên (cụ thể hơn là dòng sông Đà) và người lao động tài hoa, trí dũng. Bài phân tích tác phẩm người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân dưới đây sẽ giúp các bạn tìm hiểu, khám phá hình tượng chưa từng được biết đến của con sông Đà và hình tượng ông lái đò tài hoa được nhà văn xây dựng qua tùy bút. Cùng Butbi tham khảo nhé.

Phân tích bài Người lái đò sông Đà | Ngữ văn 12
Phân tích bài Người lái đò sông Đà | Ngữ văn 12

Tham khảo thêm: 

1. Dàn ý phân tích bài Người lái đò sông Đà

A. Nội dung phần mở bài

– Giới thiệu về tác giả – nhà văn Nguyễn Tuân: 

  • Là một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo với cái tôi đầy cá tính.
  • Ông cũng là một nhà văn tài hoa uyên bác, luôn tìm tòi, khám phá thế giới ở bình diện văn hóa thẩm mĩ.

– Giới thiệu về tác phẩm – tuỳ bút Người lái đò sông Đà: được sáng tác trong chuyến đi lên miền núi Tây Bắc để khám phá vẻ đẹp thiên nhiên, con người nơi đây của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm có nội dung ngợi ca vẻ đẹp của con người bình dị lao động và thiên nhiên hùng vĩ miền Tây Bắc.

B. Nội dung kiến thức phần thân bài

a) Lời đề từ và ý nghĩa của nó

– Lời đề từ thứ nhất “Đẹp vậy thay …”: thể hiện xúc cảm dâng trào một cách mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người, qua đó thấy được cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca.

– Lời đề từ thứ hai của tác phẩm: “Chúng thủy … độc bắc lưu”: thể hiện nét cá tính độc đáo, có một không hai của con sông Đà.

b) Hình tượng, vẻ đẹp của dòng sông Đà.

*Dòng sông hung bạo, dữ dằn:

– Hình ảnh “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: gợi lên hình ảnh lòng sông nhỏ hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, phải “đúng ngọ mới có mặt trời”, còn chỗ “vách đá … như một cái yết hầu”.

– Ở mặt ghềnh Hát Loóng thì “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò ở đây.

– Ở Tà Mường Vát lại “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông” và chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”.

– Trận địa thác đá được tác giả miêu tả bởi cái nhìn từ xa đến gần:

  • Từ phía xa: âm thanh thác nước hiện lên với nhiều trạng thái như: “oán trách”,van xin”, “khiêu khích”, “chế nhạo”; rồi lại “rống lên như một ngàn con trâu … cháy bùng bùng” (dùng lửa để tả nước).
  • Khi ở gần: Những hòn đá cũng đầy mưu mẹo, chúng: “nhăn nhúm”, “”hất hàm”, “oai phong”, chúng còn có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “tiêu diệt”; còn sóng thì: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”.
  • Sự biến hóa linh hoạt, đầy mưu mẹo của 3 trùng vi thạch trận.

– Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa như một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, là thứ kẻ thù số một của con người.

*Con sông Đà trữ tình, thơ mộng

– Nhìn từ trên cao xuống như, dòng sông uốn lượn như “dây thừng ngoằn ngoèo”, như “áng tóc trữ tình”, mùa xuân nó mang màu xanh ngọc bích, qua thu thì lừ lừ chín đỏ.

– Khi đi rừng lâu ngày được gặp lại con sông thì con sông Đà ấy như một “cố nhân”, nơi đây có ánh sáng “loang loáng như trẻ con chiếu gương vào mắt”, và như “nắng tháng ba Đường thi”, …

– Khi đi thả thuyền trên sông ta thấy: “bờ sông như một bờ tiền sử”, chúng “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, thiên nhiên mơn mởn, xanh tươi: “lá ngô non”, “con hươu thơ ngộ”, …

c) Hình tượng, vẻ đẹp của người lái đò sông Đà

– Có thể liên hệ đến hình ảnh người anh hùng Huấn Cao – trong quan niệm của Nguyễn Tuân trước cách mạng để liên tưởng, dẫn dắt sang hình tượng ông lái đò.

– Về lai lịch của người lái đò: tác giả xóa mờ xuất thân, không nhắc đến lai lịch mà tập trung miêu tả ngoại hình: “tay lêu nghêu … chất mun”, qua đó ngợi ca những con người vô danh luôn âm thầm cống hiến.

– Công việc: lái đò trên sông Đà, công việc mà hằng ngày phải đối diện với con thủy quái hung bạo, dữ dằn, mưu mô…

– Tài năng và tâm hồn:

  • Là người từng trải, hiểu biết, thành thạo và có nhiều kinh nghiệm trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, ông còn “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước”, …
  • Là một người mưu trí, dũng cảm, gan dạ đầy bản lĩnh, cứ ung dung, bình thản đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo …”, đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác vô cùng điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác …”
  • Còn là một người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác chứ không thích lái đò trên những khúc sông êm đềm, phẳng lặng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” kia là chuyện thường.

– Khái quát về phong cách nghệ thuật độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Tuân.

C. Nội dung phần Kết bài

– Tổng kết những nét nghệ thuật đặc sắc: ngôn ngữ điêu luyện, trí tưởng tượng phong phú, độc đáo, vận dụng tri thức, sự am hiểu của nhiều ngành nghệ thuật, xây dựng hình tượng sông Đà và ông lái đò vô cùng thành công.

– Khái quát lại nội dung: tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp bình dị của con người lao động, vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước.

2. Sơ đồ tư duy bài Người lái đò sông Đà

Nắm chắc kiến thức bài thông qua Sơ đồ tư duy Người lái đò sông Đà chi tiết nhất:

Sơ đồ tư duy bài Người lái đò sông Đà
Sơ đồ tư duy bài Người lái đò sông Đà

3. Bài văn mẫu phân tích Người lái đò sông Đà chi tiết

“Người lái đò sông Đà” là một bút ký đặc sắc đầy sáng tạo và tiêu biểu cho phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng tám. Một nhà văn tài hoa, uyên bác, không quản ngại gian lao vất vả để có được những dòng bút ký, đậm cảm giác chân thực, có sức liên tưởng phong phú khiến cho người đọc người nghe muốn được hòa nhập với nhịp động phát triển của đất nước của cuộc đời.

Có thể nói trong nghệ thuật, đến với Nguyễn Tuân đó là đến với sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo, bởi chính ông là người sáng tạo lại thế giới. Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay cũng giống với mình của ngày hôm qua, ông như sợ sự trùng lặp tầm thường, giản đơn. Cho nên ông đi theo “chủ nghĩa xê dịch” và lấy nó làm đề tài cho các tác phẩm của mình, phải đi thì mới có thể viết lên những tác phẩm có giá trị được.

Tác phẩm “Người lái đò sông Đà”  là kết quả của cuộc hành trình ngược về miền Tây Bắc trong giai đoạn năm 1958-1960 đầy trải nghiệm sâu sắc của tác giả và được in lần đầu trong tập tùy bút Sông Đà (1960). Dòng sông Đà quanh co, uốn lượn dọc qua các triền núi, dòng nước thì chảy xiết với độ dốc lớn. Chính đặc điểm này đã tạo cho con sông một vẻ đẹp kỳ thú, rất hoang sơ và kỳ vĩ. Hình ảnh con sông Đà hung bạo, dữ dằn mà trữ tình, thơ mộng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tài hoa, đầy nghệ sĩ của ông lái đò trên dòng Đà giang.

Trên thực tế, hình ảnh con sông Đà cũng đã được nhiều nhà văn, nhà thơ chọn làm đề tài và khắc họa lên vẻ đẹp của nó, nhưng phải đến với Nguyễn Tuân thì con sông Đà ấy mới hiện ra chân thực và đầy những điều mới mẻ mà chưa từng có ở bất kỳ một tác phẩm nào. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên với vẻ vừa hung bạo, dữ dội nhưng cũng vừa trữ tình biết bao nhiêu. Con sông Đà như còn mang một tâm địa xảo quyệt, mưu mô của thứ kẻ thù số một, tất cả như muốn cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…” mà chúng bày ra. Không dừng lại ở đó, nước ở con sông Đà này cũng “reo như đun sôi lên một trăm độ… vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Nguyễn Tuân còn miêu tả một cách sống động rằng có khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng lại “nhổm cả dậy để vồ lấy”… Thế nhưng ngay sau đó, khi sự hung hãn, dữ tợn kinh người trôi qua, nó lại hiện lên với cả vẽ trữ tình, thơ mộng đến khó tin. Tác giả còn miêu tả nổi bật lên được hình ảnh con sông lúc ở những đoạn xuôi dòng, không những thế ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng bỗng trở lên mềm mại, uyển chuyển và mang đậm chất thơ với đoạn miêu tả: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”…

Với việc so sánh dòng sông Đà “như một áng tóc trữ tình”, tác giả đã phác họa dòng sông hiện lên với cái vẻ kiều diễm, thướt tha của một người phụ nữ. Thông thường người ta sẽ dùng chữ “áng” để chỉ những tác phẩm nghệ thuật, vậy mà ở đây Nguyễn Tuân lại dùng nó để chỉ sông Đà. Có thể thấy trong suy nghĩ của Nguyễn Tuân, con sông Đà ấy giống như một tác phẩm nghệ thuật mà tạo hoá đã tạo ra. 

Sông Đà không chỉ đẹp ở dáng hình, ngay cả ở màu nước cũng mang một vẻ đẹp riêng. Tác giả đã quan sát dòng sông ở những thời điểm và không gian khác nhau. Vào mùa xuân thì dòng nước xanh như ngọc bích, vừa trong xanh vừa óng ánh. Nhưng khi thu sang nước sông lại chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa. Bằng việc miêu tả cụ thể từng chi tiết với những so sánh độc đáo con sông Đà hiện lên vừa đẹp, vừa đa dạng và qua đó mới thấy được sự hiểu biết sâu rộng cùng khả năng quan sát tinh tế của nhà văn.

Cũng chính trong cái vẻ hung tợn, dữ dằn và cái đẹp đầy trữ tình, thơ mộng ấy của đất trời thiên nhiên, thì hình ảnh ông lái đò xuất hiện thật dữ dội, phi thường giống như một người nghệ sĩ. Khi đứng trong một cuộc chiến đấu cam go “một mất, một còn” với những cái thác nước hung dữ, lúc này Nguyễn Tuân cũng đã cho ta thấy được cái tài hoa, sự trí dũng tuyệt vời của ông lái đò. Ông lái đò sông Đà điêu luyện điều khiển con thuyền của mình một cách chủ động và thuần thục giống như một người nghệ sĩ. Với đoạn văn miêu tả cận cảnh ông lái đò vượt thác thật đẹp, thật oai hùng: “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nhà văn Nguyễn Tuân đã tái hiện lại khung cảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon thật hay, thật nhịp nhàng, du dương không chệch một nốt.

Hình ảnh của người lái đò ấy dường như cũng chính là sự hiện thân của tác giả. Với Nguyễn Tuân thì ông không thích những thứ cũ mèm, tầm thường, giản dị thì với người lái đò cũng vậy, ông cũng chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm, đầy kịch tích với thác nước dữ dội mà chẳng ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả, bình lặng.

Thành công của Nguyễn Tuân đó là sử dụng giọng văn thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập trong cùng một sự vật, điều này là một sự mới mẻ đầy sáng tạo. Con sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, nó là một kẻ thù nhưng đồng thời cũng chính là một cố nhân. Chính dưới ngòi bút tài hoa của tác giả, con sông không chết cứng mà nó vẫn vận động một cách mạnh mẽ, sôi nổi bằng những từ ngữ, câu văn gợi hình ảnh, tất cả như đã tác động mạnh vào giác quan của người đọc. Sự xuất hiện của ông lái đò cũng thế, hiện lên một cách sinh động, rõ nét và sắc sảo. Đối với Nguyễn Tuân mà nói thì “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Đã là văn thì đầu tiên là phải đẹp, phải trau chuốt. Và cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả như đứng trên toàn bộ tác phẩm. Hình ảnh thiên nhiên và con người lúc này đây đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ biết bao nhiêu thông qua ngòi bút tài ba của Nguyễn Tuân.

Có thể nói tác phẩm tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển mình lớn trong phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân. Ở trước cách mạng, ông luôn đi tìm đề tài cho tác phẩm của mình bằng cách quay về với quá khứ, ông luôn viết, tìm hiểu về một thời vang bóng đã qua. Qua đó, người đọc có thể dễ dàng nhìn thấy được nhân vật của Nguyễn Tuân đó là những Huấn Cao, nhân vật quản ngục mang mang phí phách của kẻ “nào biết trên đầu có ai”. Tất cả các nhân vật “vang bóng một thời” ấy là những vị anh hùng ngang dọc, họ đều là những khinh bạc đến điều. Thế nhưng sau cách mạng,  Nguyễn Tuân lại tìm thấy cái chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi, thân thuộc ở ngay chính những công việc bình thường mà họ đang làm.

Với “Người lái đò sông Đà” thì ông lái xuất hiện trước mắt chúng ta như một người nghệ sĩ tài hoa, trí dũng song toàn. Qua đó, Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, sự cảm phục, lòng biết ơn những con người đã góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính trong việc phác họa lại vẻ đẹp của sông núi Tây Bắc cùng với hình ảnh của người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp những hiểu biết, những kiến thức của mình từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau như: hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh, … Tất cả mọi cảnh vật, mọi sự việc như hiện lên trước mắt ta sừng sững và sinh động biết bao nhiêu. Tác giả đã miêu tả chi tiết, sinh động, cụ thể đến mức khiến cho người đọc cảm tưởng như mình  đang tận mắt chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, với dòng sông quái ác, đồng thời cũng thấy được từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và hình ảnh một con sông êm ả, trữ tình biết bao nhiêu.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta gọi Nguyễn Tuân là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Vì ông là một người có vốn cũng như nguồn tri thức về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… khổng lồ. Tất cả các kiến thức này cũng thường được thể hiện, tuôn trào dào dạt trong những tác phẩm của ông, và qua “Người lái đò sông Đà” ta lại càng thấy rõ hơn về điều này.

Khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phong phú, đa dạng. Mỗi từ ngữ, mỗi câu văn khi đưa vào các trang viết dường như đã được chắt lọc, gọt giũa một cách cẩn thận. Ông cũng khéo léo sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo, chính điều này đã đóng góp vào sự đa dạng ngôn ngữ Việt Nam. Giọng văn của Nguyễn Tuân đôi khi mang vẻ thô kệch, đời thường, mộc mạc nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Ông không chỉ viết lên những trang văn tài hoa, những tác phẩm đặc sắc mà còn khiến cho người đọc cảm nhận được những âm hưởng trong mỗi đoạn văn.

Nguyễn Tuân đã viết về người lái đò sông Đà, cũng như viết về một miền quê hương của Tổ quốc. Qua đó, ông đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết, sự trân quý đối với người lao động và thêm với đó là tình yêu thiên nhiên đất nước sâu nặng. Thực sự chính những tác phẩm văn chương đặc sắc này của ông đã mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp tri thức tài hoa, uyên bác.

Mong rằng, qua bài phân tích bài Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân chi tiết trên, Butbi đã giúp các bạn đưa ra định hướng nhìn nhận mới về việc cảm nhận tác phẩm này, từ đó các bạn sẽ tìm ra cho mình một lối viết độc đáo và hay nhất.