Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân)- Môn Ngữ văn – Lớp 12

0
69

Ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng thầy Đặng Ngọc Khương (giáo viên môn Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI) đi phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” của tác giả Kim Lân.

I. Giới thiệu chung

1. Tác giả.

  • Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn tài, sinh năm 1920 – 2007, quê ở Phù Lưu, Bắc Ninh.
  • Kim Lân viết không nhiều nhưng lại có tác phẩm đặc sắc, sở trường của ông là truyện ngắn.
  • Ông thường viết về một số nông thôn và đời sống của những người dân thôn quê rất chân thực và sinh động.

2. Tác phẩm.

a, Xuất xứ: “Vợ nhặt” tiền thân là một chương của tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được sáng tác ngay sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhưng do thất lạc đến năm 1954, Kim Lân viết lại và đặt tên là “Vợ nhặt”, in trong tập “Con chó xấu xí” xuất bản năm 1962.

b, Hiện thực được phản ánh: Nạn đói cuối năm 1944, đầu 1945 kéo dài từ Quảng Trị ra Bắc => Hai triệu đồng bào chết vì đói.

c, Bố cục:

  • Từ đầu đến “ấy thế mà thành vợ thành chồng”: Cảnh Tràng đưa Thị về nhà.
  • Tiếp đến “cùng đẩy xe bò về”: Kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.
  • Tiếp đến “nhà có người chết đói”: Tình thương của người mẹ già với đôi vợ chồng mới.
  • Còn lại: Lòng tin về sự đổi đời.

II. Đọc hiểu văn bản.

1. Ý nghĩa nhan đề: “Vợ nhặt”

  • Cách kết hợp từ lạ “Vợ nhặt” khác với “Nhặt vợ”.
  • Động từ “nhặt” chỉ sự ngẫu nhiên, vu vơ.
  • Khi trở thành định ngữ cho danh từ “vợ” -> Thân phận nhỏ bé, bất hạnh, rẻ rúng của con người -> cảm thương, xót xa.

2. Tình huống truyện.

*Tràng gặp thị và “nhặt” thị về làm vợ:

  • Tình huống kì lạ và độc đáo: Tràng là người khó lấy vợ; giữa nạn đói thảm khốc.
  • Cực kì éo le: Gây nên sự lo lắng cho những người ngoài cuộc; cả sự lo lắng của người trong cuộc.

3. Hình tượng nhân vật.

a, Nhân vật Tràng.

*Khái quát về nhân vật:

  • Hoàn cảnh: Sống xóm ngụ cư; cha mất sớm, chỉ còn mẹ già; nghèo khó.
  • Tính cách: hơi dở tính.
  • Hình dáng: Thô kệch, xấu.

*Hành động và diễn biến tâm trạng khi gặp thị:

  • Rất hào phóng: chiêu đãi thị 4 bát bánh đúc.
  • Nói nửa đùa nửa thật -> thị theo Tràng về làm vợ -> Tràng lo lắng -> Bất chấp “tặc lưỡi, kệ”
  • Trên đường đưa thị về nhà: Rất vui và nghiêm túc.
  • Khi đưa thị về đến nhà: Hồi hộp, hơi lo sợ, ngỡ ngàng; giới thiệu thị với mẹ một cách trang trọng.
  • Sáng hôm sau: Vẫn ngỡ ngàng trước hạnh phúc; người êm ái, lơ lửng; cảm thấy cuộc sống đã thay đổi; gắn bó, thương yêu gia đình.

b. Nhân vật thị.

*Khái quát về nhân vật thị: Không tên, không gia đình, sống vất vưởng.

*Tính cách và diễn biến tâm trạng:

  • Trước khi về làm vợ: Người phụ nữ chua chát, không ý tứ và thiếu duyên dáng, đánh mất lòng tự trọng.
  • Sau khi về làm vợ: Người phụ nữ duyên dáng, ý tứ, đảm đang, khéo léo.

c. Nhân vật cụ Tứ.

*Khái quát về nhân vật cụ Tứ: Người mẹ nông dân nghèo; Già nua, ốm yếu.

*Diễn biến tâm trạng khi gặp thị: Ngạc nhiên, bất ngờ đầy băn khoăn; Cúi đầu nín lặng; Nghĩ về thị đầy cảm thông, thương xót; Động viên, an ủi và bày tỏ nỗi lòng với người con dâu.

*Tâm trạng bà cụ trong buổi sáng hôm đó: Nhẹ nhõm, tươi tỉnh, nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng; gọi cháo cám là chè khoán.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho các em trong chương trình học Ngữ văn lớp 12.

Bình luận Facebook
Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân)- Môn Ngữ văn – Lớp 12
Đánh giá bài viết

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here