Phân tích bài Vợ nhặt của kim lân | Ngữ văn 12

0

Phân tích bài Vợ nhặt– Kim Lân chi tiết. Bài Phân tích Vợ nhặt của Kim Lân dưới đây mang đến dàn ý chi tiết, sơ đồ tư duy cùng bài văn mẫu hay nhất được chọn lọc. Qua bài viết này Butbi giúp các em có thêm nhiều gợi ý tham khảo để củng cố kiến thức, biết cách chọn lọc những ý hay khi làm bài để đạt được kết quả cao trong các bài thi, bài kiểm tra.

Phân tích bài Vợ nhặt của kim lân | Ngữ văn 12
Phân tích bài Vợ nhặt của kim lân | Ngữ văn 12

Tham khảo thêm:

1. Dàn ý phân tích bài Vợ nhặt chi tiết

1.1. Dàn ý triển khai Mở bài phân tích tác phẩm Vợ nhặt

– Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, ngòi bút của ông tập trung viết về cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân lao động.

– “Vợ nhặt” được rút từ tập “Con chó xấu xí”, đây là truyện ngắn đặc sắc nhất của ông viết về người nông dân, qua đó miêu tả tình trạng thê thảm của họ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, đồng thời ngợi ca phẩm chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

1.2. Dàn ý phân tích phần Thân bài tác phẩm Vợ nhặt

a) Ý nghĩa nhan đề

“Vợ nhặt”: nghĩa là nhặt được vợ, nói lên sự rẻ rúng của thân phận con người và phản ánh tình cảnh thê thảm khốn cùng của con người trong nạn đói.

b) Tình huống truyện

– Tình huống truyện: Tràng – một chàng trai nghèo, xấu xí, mồ côi cha, ở với mẹ trong một xóm ngụ cư bỗng dưng lại có vợ mà lại là nhặt được, theo về không.

– Đây là một tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ: với chính bản thân Tràng (vì hoàn cảnh của Tràng rất khó mà lấy được vợ, tự dưng lại có vợ theo không về nên còn tự ngờ ngợ mình đã có vợ ư), với những người dân xung quanh (thắc mắc bàn tán), với bà cụ Tứ thì vui có buồn có tủi nhục có.

– Tình huống éo le: trong hoàn cảnh gia đình và xã hội lúc bấy giờ không cho phép Tràng lấy vợ, bởi cả hai vợ chồng đều là những người cùng cực, nghèo khổ khó có thể làm chỗ dựa cho nhau.

c) Nhân vật Tràng

– Hoàn cảnh gia đình Tràng: là dân ngụ cư bị người khác khinh bỉ, cha mất sớm ở với mẹ già trong một ngôi nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh, …

– Ngoại hình: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, hai bên quai thì hàm bạnh ra, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, ăn nói vụng về, …

* Hai lần gặp gỡ và quyết định nhặt vợ:

– Lần gặp thứ nhất: qua lời hò vui của Tràng, đây chỉ là lời nói đùa của người lao động cho bớt mệt chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.

– Lần gặp thứ 2:

  • Khi gặp lại, Tràng bị cô gái mắng, anh chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù chính anh cũng không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành, chất phác, tốt bụng.
  • Khi người đàn bà quyết định theo về: Tràng cũng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm một miệng ăn, nhưng rồi lại tặc lưỡi “chậc, kệ”. Điều đó nói lên rằng đây không phải quyết định của kẻ bồng bột, thiếu suy nghĩ mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao có được hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.
  • Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh để mua đồ: nói lên sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.

* Trên đường về nhà:

  • Vẻ mặt Tràng vui vẻ “có cái gì phơn phởn khác thường”, miệng “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc” … Đó là tâm trạng hạnh phúc, vui sướng và hãnh diện.
  • Mua dầu về thắp sáng ngôi nhà để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.

* Khi về đến nhà:

  • Tràng xăm xăm bước vào trước để dọn dẹp sơ qua, vội thanh minh về sự bừa bộn vì trong nhà thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng lại rất chân thật, mộc mạc.
  • Khi bà cụ Tứ – mẹ Tràng chưa về, lúc này Tràng lại có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng khi nhìn thấy gia cảnh khó khăn của mình người vợ sẽ bỏ đi, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.
  • Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về nhà để có thể thưa chuyện vì dù trong cái cảnh đói khổ như thế thì vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Điều này thể hiện Tràng là đứa con biết lễ nghĩa.
  • Khi bà cụ Tứ về: Trang thưa chuyện với mẹ một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, lo lắng căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý đồng ý lòng Tràng mới thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

* Sáng hôm sau khi thức dậy:

  • Tràng nhận thấy sự thay đổi lớn trong ngôi nhà (sân vườn, ang nước được quét dọn sạch sẽ, quần áo, …), Tràng nhận ra vai trò và vị trí của ng với gia đình này.
  • Lúc ăn cơm Tràng nghĩ về hình ảnh đám người đói và lá cờ đang bay phấp phới. Đó chính là hình ảnh báo hiệu sự thay đổi và con đường đi mới.

⇒ Nhận xét: Từ khi nhặt được vợ anh cu Tràng đã có những sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, tác giả ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của những con người trong cái đói.

d) Nhân vật người vợ nhặt

* Lai lịch:

– Là người không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã khiến biết bao con người phải rời xa quê hương, gia đình.

– Đến cái tên cũng không có và chỉ được gọi qua cái tên “vợ nhặt”: qua đó thấy được sự rẻ mạt của con người trong cảnh đói.

* Chân dung, ngoại hình:

– Ngoại hình: quần áo thì tả tơi như tổ đỉa, người thì gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.

– Lần gặp thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã chẳng ngần ngại mà vui vẻ chạy ra giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

– Lần gặp thứ hai:

  • Thị sưng sỉa mắng Tràng, khi được Tràng mời ăn trầu thì từ chối để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn bánh đúc thì lập tức ngồi sà xuống, mắt sáng lên và “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.
  • Khi nghe Tràng nói đùa rằng “đằng ấy có về với tớ … cùng về”, thị đã chẳng suy nghĩ mà theo về thật bởi trong cái đói khổ, đây chính là cơ hội duy nhất để thị bấu víu lấy sự sống.

⇒ Nhận xét: Cái đói, cái khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà làm thay đổi cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với thị bởi đó không phải là bản chất conn người mà chỉ do cái đói xô đẩy.

* Phẩm chất:

– Luôn tràn đầy sức sống mãnh liệt, khát khao được sống:

  • Quyết định theo Tràng về làm vợ mặc dù chưa biết gì về Tràng, chấp nhận theo không về mà chẳng cần sính lễ vì chỉ có như thế thì thị mới không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.
  • Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ của Tràng, trái ngược với lời tuyên bố “rích bố cu”, thị đã “nén một tiếng thở dài”, dù buồn, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống tiếp.

– Thị là người con gái ý tứ và nết na:

  • Trên đường về, thị cũng rón rén e ấp đi phía sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
  • Về đến nhà, Tràng đon đả mời Thị ngồi nhưng chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay thì cứ ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ, biết điều khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng – bà cụ Tứ, ngoài câu chào thị chỉ lặng yên cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng ngùng.
  • Sáng hôm sau, thị dậy sớm dọn dẹp quét tước nhà cửa, lúc này Thị không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà thay vào đó là vẻ hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cơm, mới nhìn nồi cháo cám “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng để không làm bà buồn.

⇒ Nhận xét: Cái đói, cái khổ có thể cướp đi nhân phẩm trong một khoảnh khắc nào đó chứ vĩnh viễn không thể cướp đi tâm hồn con người.

– Thị còn là người có niềm tin mãnh liệt vào tương lai: kể chuyện Việt Minh phá kho thóc của Nhật trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hi vọng, đem niềm tin tới cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

– Nêu cảm nhận của bản thân về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

e) Nhân vật bà cụ Tứ:

– Giới thiệu nhân vật, ngoại hình, dáng vẻ: dáng đi lọm khọm, chậm chạp, chân tay run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, miệng lúc nào cũng lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người già.

– Bà bất ngờ trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch và ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà lạ trong nhà.

– Khi bà hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, thì “mắt bà nhoà đi”: bà thương cho đứa con trai phải lấy vợ nhặt, mà phải trong cảnh đói khát như lúc bấy giờ mới lấy được vợ, cũng thương cho người đàn bà khốn khổ kia cùng đường mới phải lấy con trai bà.

– Bà đối xử hiền hòa với nàng dâu mới: nhẹ nhàng nói với con dâu “Con ngồi đây … đỡ mỏi chân”, nói về tương lai với niềm lạc quan, khuyên răn, bảo ban các con làm ăn…

– Nhận xét: bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, nhân hậu, chất phác và có lòng yêu thương con cái vô bờ.

1.3 Dàn ý Kết bài phân tích tác phẩm Vợ nhặt

– Khái quát giá trị nghệ thuật của truyện ngắn:  xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặt nhân vật vào tình huống éo le, để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách một cách tự nhiên; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, gần gũi.

– Giá trị nhân đạo của tác phẩm: nhà văn đã phản ánh chân thực tình cảnh khốn cùng của người nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng ca ngợi bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của họ.

2. Sơ đồ tư duy phân tích bài Vợ nhặt

2.1. Sơ đồ tư duy phân tích tác phẩm Vợ nhặt Tổng Quát

Dưới đây là hướng dẫn phân tích bài Vợ nhặt tổng quát thông qua sơ đồ tư duy dàn ý triển khai mơ bài, thân bài và kết bài. Cùng tham khảo nhé!

Sơ đồ tư duy phân tích bài Vợ nhặt tổng quát
Sơ đồ tư duy phân tích bài Vợ nhặt tổng quát

2.2. Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt

Phân tích nhân vật Thị trong tác phẩm Vợ nhặt trong qua sơ đồ tư duy kiến thức dưới đây:

Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt
Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt

2.3. Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt

Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt thông qua tóm tắt nội dung về nhân vật dưới đây:

Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt
Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt

2.4. Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt

Cùng butbi tham khảo Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong bài Vợ nhặt nhé!

Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt
Sơ đồ tư duy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt

2.5. Sơ đồ tư duy phân tích giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của Vợ nhặt

Nắm vững kiến thức thông qua Sơ đồ tư duy phân tích giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của Vợ nhặt.

Sơ đồ tư duy phân tích giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của Vợ nhặt
Sơ đồ tư duy phân tích giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của Vợ nhặt

2.6. Sơ đồ tư duy phân tích tình huống truyện trong vợ nhặt

Sơ đồ tư duy phân tích tình huống truyện trong bài vợ nhặt để các bạn tham khảo:

Sơ đồ tư duy phân tích tình huống truyện trong vợ nhặt
Sơ đồ tư duy phân tích tình huống truyện trong vợ nhặt

3. Bài văn mẫu phân tích truyện ngắn Vợ nhặt hay nhất được chọn lọc

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh ra ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phải đi làm kiếm sống. Ông có sự đam mê và yêu thích văn chương, nên đã bắt đầu sáng tác từ năm 1941. Một số truyện ngắn của ông lấy cảm hứng từ cuộc sống lam lũ của người nông dân nghèo hoặc các cảnh sinh hoạt văn hóa truyền thống ở vùng thôn quê.

Sau Cách mạng tháng Tám, những tác phẩm truyện ngắn của ông đều viết về làng quê, đây là mảng hiện thực mà ông am hiểu sâu sắc. Nguyên Hồng đã từng nhận xét thì Kim Lân rằng ông là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu nguyên thủy nhất của cuộc sống nông thôn. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm đặc sắc có giá trị và “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của ông, tác phẩm được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ nhưng mãi cho đến sau khi hòa bình lập lại 1954 mới cho ra mắt bạn đọc trong tập truyện “Con chó xấu xí”.

Lấy bối cảnh là nạn đói năm khủng khiếp 1945, “Vợ nhặt” đã khắc họa một cách trần trụi cuộc sống ngột ngạt, bức bối cùng cái nghèo khó, bần cùng của nhân dân ta thời bấy giờ. Cái đói, cái khổ đã hiện hữu thành hình, thành màu, thành mùi và thành vị khiến con người ta bị dồn tới mức đường cùng, đẩy họ đến bên bờ vực thẳm của cái chết. Chứng kiến thảm cảnh kinh hoàng ấy, ngòi bút của Kim Lân đã cất lên tiếng đau đớn của niềm cảm thương trước những số phận bất hạnh. Đồng thời qua đó, ông cũng lên tiếng tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp và bọn phát xít Nhật, ca ngợi khát vọng sống, khát vọng được hạnh phúc và niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của con người.

Ngay từ nhan đề tác phẩm, Kim Lân đã cho người đọc thấy sự tò mò bởi hai từ “Vợ nhặt”, vợ nhặt tức là người vợ được nhặt về mà không cần cưới xin. Nhưng cũng chính nhan đề ấy là “thắt nút” của câu chuyện, khắc họa một cách khá đầy đủ về số phận bất hạnh của các nhân vật. Qua đó phản ánh số phận thê thảm, tủi nhục và sự rẻ rúng của con người trong nạn đói khủng khiếp ấy.

Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật Tràng – một người thanh niên nghèo khổ, có ngoại hình xấu xí nhưng chỉ với vài ba câu hò bông đùa và mấy bát bánh đúc mà lại nhặt được cô vợ đang sống dở chết dở vì đói. Họ đã kết lên mối nhân duyên giữa bóng đêm bao trùm của nạn đói. Đêm tân hôn của họ diễn ra âm thầm trong cái bóng tối lạnh lẽo với tiếng khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió vọng lại. Bữa cơm giản dị, thô sơ với rau chuối và nồi cháo cám. Bữa cơm đầu tiên ấy do chính tay me chồng chuẩn bị để đãi con dâu và con trai. Khi ăn, ba mẹ con xoay sang câu chuyện Việt Minh phá kho thóc của Nhật để chia cho người dân nghèo và kết thúc câu chuyện là hình ảnh: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đưa ra quan niệm rằng: “Tình huống truyện là một lát cắt của sự sống, là một sự kiện diễn ra có phần bất ngờ nhưng cái quan trọng là nó sẽ chi phối nhiều điều trong cuộc sống của con người”. Trong “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng một tình huống hết sức độc đáo đó là: anh chàng ngụ cư nghèo khổ, xấu xí như Tràng mà lại “nhặt” được vợ chỉ bằng vài ba câu nói bông đùa và mấy bát bánh đúc. Điều đó không chỉ gây ngạc nhiên cho những người dân làng xung quanh, cho mẹ Tràng mà còn cho chính bản thân của anh ta nữa. Đây là một tình huống éo le, cảm động nhưng lại hết sức hợp lí bởi chính cái nạn đói đã làm cho những mảnh đời cơ cực trôi dạt vào với nhau và họ mới nên vợ nên chồng. Qua đó tình huống truyện đã làm nổi bật lên giá trị hiện thực cũng như giá trị nhân đạo sâu sắc: nạn đói khủng khiếp ấy đã đẩy con người tới cận kề cái chết khiến giá trị con người trở nên rẻ rúng, đồng thời cũng làm nổi bật hình ảnh các nhân vật.

Trước hết, truyện đã tái hiện lên hoàn cảnh cơ cực, khốn khó, nghèo đói đến xác xơ tiêu điều của con người qua hình ảnh của những người dân làng đặc biệt là mẹ con Tràng. Cái đói ập đến ngôi làng giống như một con quỷ dữ nuốt chửng tính mạng của biết bao nhiêu con người, nó đã biến không khí vốn trong lành, tươi mát của một làng quê thanh bình, yên ả thành không khí ẩm ướt hôi thối của mùi rác rưởi và xác chết: “Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Cái đói, cái khổ ấy đã cướp đi tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên của những đứa trẻ trong làng. Cách đó không lâu, trong mỗi buổi chiều Tràng đi làm về, đám trẻ con lại bu lại xung quanh anh, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa thì cù, đứa thì kéo khiến cho cái xóm ấy mỗi lúc chiều lại xôn xao, nhộn nhịp lên một lúc. Nhưng niềm vui nhỏ nhoi ấy bây giờ cũng không còn nữa, nụ cười tắt hẳn trên môi chúng. Chúng ngồi ủ rũ, mặt buồn so dưới những xó đường, không nhúc nhích. Còn Tràng – nhân vật trung tâm của truyện là một thanh niên ngụ cư nghèo, có ngoại hình xấu xí, thô kệch sống hiu quạnh với người mẹ già trong túp lều dựng trên mảnh vườn đầy cỏ dại. Sống với thân phận là dân ngụ cư, họ bị dân làng coi thường, khinh bỉ, làm những công việc hèn hạ như đầy tớ. Và giống như một định mệnh của cái kiếp nghèo khổ, đói rách, chàng đã “nhặt” được một cô vợ – một người phụ nữ không tên, không tuổi cũng chẳng có quê quán, nhà cửa. Thị bị cái đói đẩy ra ngoài đường, nhập vào với dòng người tha hương cầu thực, ngồi vêu ra ở kho thóc để nhặt những hạt rơi hạt vãi, sống nơi đầu đường xó chợ. Bằng ngòi bút tả thực, Kim Lân đã khắc họa bức tranh của “ngôi làng đói” trong năm 1945 một cách chân thực mà trần trụi.

Nhưng cũng chính trong cái “hiểm nghèo” ấy, con người đã bộc lộ ra những phẩm chất tốt đẹp: Đó chính là tình yêu giữa con người với con người, niềm khao khát được sống, được hạnh phúc và niềm tin mãnh liệt vào tương lai.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: 

“Có gì đẹp trên đời hơn thế

Người với người sống để yêu nhau”.

Vâng, tình yêu chính là thứ duy nhất còn xót lại khi con người ta đã mất đi tất cả, đã rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo, khốn cùng. Trong cái hoàn cảnh đói khát khủng khiếp ấy, nhân vật Tràng hiện lên với sự tốt bụng của một chàng trai sẵn sàng chia sẻ miếng ăn cho người phụ nữ xa lạ mặc dù bản thân anh cũng chẳng dư dả gì. Đặc biệt nhân vật bà cụ Tứ hiện lên với lòng nhân hậu, khoan dung, hiền từ và tình yêu thương con sâu sắc. Cuộc đời sẽ lặng lẽ, âm thầm trôi qua nếu không gặp sự kiện Tràng đưa một người phụ nữ xa lạ về làm vợ. Kim Lân đã dùng ngòi bút tinh tế của mình để thể hiện sâu sắc tâm lí của người mẹ nghèo khổ trước sự kiện con trai bỗng dưng có vợ: bà cụ đã hết sức ngạc nhiên. Khi nghe người phụ nữ kia chào bà bằng “u” mà vẫn không hiểu, mắt nhìn nhòe đi mà vẫn không tin, trong đầu bà xuất hiện hàng loạt những câu hỏi: “Ai thế nhỉ? Sao lại chào mình bằng u?” . Đó là bởi vì bà chưa từng nghĩ một người nghèo khó, xấu xí như con trai mình lại có vợ. Bà ngạc nhiên không phải là sự hoảng hốt, lo lắng mà là niềm ngỡ ngàng trước hạnh phúc quá lớn lao bất ngờ của con trai. Khi đã hiểu ra vấn đề, thì lòng người mẹ lại chất chứa bao cơ sự, vừa thương con lại vừa xót xa cho chính mình: “Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Dấu ba chấm được đặt ra như ngưng đọng nỗi nghẹn ngào vì thương xót, vì tủi thân, giọt nước mắt thương con lăn dài trên gò má. Không những thế, bà còn cảm thấy lo lắng khi nghĩ về hiện thực: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”. Dù lo lắng là vậy nhưng khi nhìn người đàn bà tội nghiệp đang đứng vân ve tà áo thì lòng bà lại xót thương vô cùng cho người con dâu mới này. Sự nhân hậu và cảm giác yên tâm đã thay thế cho nỗi lo trong lòng bà: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Tình yêu thương con của bà còn được bộc lộ trong từng suy nghĩ, từng hành động cụ thể: bà đã gọi người phụ nữ là “con”. Chỉ với một từ “con” đó thôi đã cho ta hiểu rằng bà đã dang rộng vòng tay đón nhận cô con dâu này giúp con dâu bớt ngượng ngùng. Bà còn thủ thỉ tâm sự: “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Hai từ “mừng lòng” ấy nói lên việc bà đã coi người con dâu đến với gia đình như một niềm vui. Bà kể về gia cảnh của mình “Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng mà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”. Lời nói tưởng chừng như có vẻ lẩm cẩm nhưng lại rất chan thành, nhân hậu, chan hòa phá tan đi sự ngượng ngùng ban đầu.

Cùng với tình yêu thương, nhà văn đã thể hiện niềm khao khát có được hạnh phúc của con người qua nhân vật Tràng và Thị – người vợ nhặt. Trước hết cái khao khát hạnh phúc của Tràng được thể hiện qua diễn biến tâm lí và hành động anh. Tràng quyết định rất nhanh chóng khi đưa người một phụ nữ xa lạ, chỉ mới gặp 2 lần về làm vợ: “Mới đầu anh chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo sau này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” sau đó anh ta “chặc kệ”. Nhìn bên ngoài anh ta có vẻ hơi thiếu trách nhiệm, liều lĩnh nhưng tận sâu bên trong lại chứa đựng niềm khát khao hạnh phúc thường trực lớn đến mức giúp Tràng vượt lên trên cả cái đói và cái chết. Khi Tràng đưa vợ về nhà, mặc dù nghèo nhưng anh vẫn hào phóng khi đãi thị một bữa ăn no và mua cho một cái thúng. Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy hiện lên trong con mắt và nụ cười tủm tỉm. Trong chốc lát Tràng đã quên đi cái nghèo đói mà tình tứ đi bên người đàn bà của mình, họ nói chuyện với nhau còn chưa hết ngượng ngùng nhưng trong họ đã nhen nhóm ngọn lửa hạnh phúc. Khi về tới nhà, Tràng vội thanh minh cho sự tuềnh toàng, lộn xộn của nhà mình do không có bàn tay chăm sóc của người phụ nữ. Khi thấy bà cụ Tứ mãi chưa về, Tràng lo lắng sốt ruột, anh đang rất mong muốn được công khai hạnh phúc của mình. Anh ta nhìn lén lút người phụ nữ kia, sợ rằng với gia cảnh nghèo khó này thị sẽ bỏ đi, sợ rằng hạnh phúc sẽ tuột khỏi tầm tay. Khi mẹ về, Tràng vui mừng chủ động giới thiệu với mẹ một cách nghiêm túc, trịnh trọng bằng hai chữ “nhà tôi”, “chúng tôi”, “nhà tôi nó về nó làm bạn với tôi”. Tâm lí của Tràng như xóa tan đi sự căng thẳng trong buổi đầu gặp mặt, anh coi đây là một việc hết sức nghiêm túc: anh muốn sống lâu dài với người phụ nữ này. Cảm xúc của Tràng được bộ lộ rõ nét nhất trong buổi sáng hôm sau khi thức dậy. Một ngày mới đến với niềm hạnh phúc hân hoan, Tràng “cảm thấy êm ái lơ lửng như đi từ giấc mơ ra”. So với sự vô tâm như mọi khi thì hôm nay Tràng nhận thấy sự thay đổi khác lạ xung quanh mình. Anh thấy thật hạnh phúc khi được sống trong không khí yên bình với niềm hạnh phúc giản dị của gia đình: vợ quét dọn sân nhà, mẹ thì dọn cỏ ngoài vườn. Cảnh tượng bình dị ấy đã khơi gợi trong lòng Tràng cảm giác hạnh phúc vô bờ. Không những thế Tràng nhận thấy mình cần trưởng thành và có trách nhiệm với gia đình hơn, anh cũng muốn bắt tay vào làm gì đó góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình.

Bên cạnh khao khát hạnh phúc của nhân vật Tràng, gia đình nhỏ ấy còn được vun vén, đắp xây bởi khao khát của người vợ nhặt. Thị đã vượt lên trên số phận ngặt nghèo, bất hạnh để sống trọn vẹn với hạnh phúc nhỏ nhoi của mình. Cô liều lĩnh, bất chấp theo Tràng về làm vợ và khi về hiểu được gia cảnh của Tràng, thị ngán ngẩm thở dài nhưng vẫn muốn có một gia đình. Thành vợ, thành con dâu trong gia đình, thị bắt tay để gây dựng gia đình, cuộc sống với hai mẹ con Tràng: sáng hôm sau thị dậy sớm để thu vén dọn dẹp sân vườn, nhà cửa. Nhờ có đôi bàn tay của người vợ – người phụ nữ mà mọi thứ hoàn hóa bẩn thỉu đã bị đẩy lùi, căn nhà trở nên đầm ấm, có sức sống hơn, thậm chí bản thân Tràng cũng có sự thay đổi lớn: Tràng muốn trở thành người con có hiếu và người chồng có trách nhiệm. Có thể nói càng trong hoàn cảnh khó khăn, con người ta lại càng trân trọng và tìm kiếm hạnh phúc.

Cùng viết về đề tài những người nông dân trong cái nghèo đói nhưng khác với những nhà văn khác, Kim Lân đã gieo vào trong tác phẩm của mình một tư tưởng mới đó là: Khi con người ta bị đẩy tới bước đường cùng của cái đói, cái khổ người ta mới muốn sống hơn muốn chết. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất qua nhân vật người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Người “vợ nhặt” vì muốn thoát khỏi cái đói, cái chết, vì mong muốn được sống mà đã liều lĩnh theo Tràng – một người đàn ông xa lạ về làm vợ. Niềm khao khát được sống nâng lên thành niềm khát khao được hạnh phúc làm thay đổi người đàn bà này từ một người chan chát, đon đả, chảnh lỏn thành người vợ hiểu chuyện biết vun vén cho hạnh phúc gia đình. Ở thị toát lên một sức sống mãnh liệt nên thị làm mọi cách để được sống và sống như một con người. Cùng với đó là niềm khao khát sống, niềm tin vào tương lai của bà cụ Tứ. Dù lo lắng cho các con, dù xót xa cho cái nghèo, cái khổ nhưng bà vẫn nén lòng mình lại để động viên an ủi các con và cũng là động viên, an ủi chính mình “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Bà bảo ban, khuyên răn các con và cũng chủ động gây dựng cuộc sống cho mình và các con. Bản thân bà cũng đã thay đổi hoàn toàn với trước kia: khác với dáng đi lom khom và khuôn mặt u ám, xám xịt hàng ngày, nay bà đã ra vào nhanh nhẹn, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên, bà nói chuyện vui vẻ, bắt tay dọn nhà cửa. Tất cả những thay đổi của bà đều xuất phát từ tình yêu thương và khát vọng sống mãnh liệt.

Qua việc tái hiện khung cảnh nghèo đói, khốn cùng của con người cùng thế giới nội tâm nhân vật, nhà văn đã lên tiếng tố cáo xã hội thực dân đã chèn ép, vùi dập con người đồng thời hướng con người tìm tới con đường cách mạng. Điều đó thể hiện qua câu chuyện của người vợ nhặt: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa”. Và kết thúc tác phẩm là hình ảnh: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” đó như là lời cảnh tỉnh của nhà văn về con đường mà người nông dân cần đi đó chính là con đường cách mạng.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” để lại những rung cảm, những ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc không chỉ bởi niềm cảm thương, xót xa, niềm khao khát bình dị của con người mà còn bởi nghệ thuật độc đáo. Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi mang đậm màu sắc của vùng đồng bằng trung du bắc bộ. Bên cạnh đó là nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, hấp dẫn và lôi cuốn bạn đọc ngay từ nhan đề. Qua đó tác phẩm đã thể hiện đưuọc khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mạnh liệt cùng niềm tin vào một tương lai tươi sáng của con người trong nạn đói.

Mong rằng bài viết trên đây mà Butbi chia sẻ cho các bạn sẽ là tài liệu hữu ích trong việc học tập và ôn luyện ngữ văn 12.